Bản án 39/2017/HSST ngày 14/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 39/2017/HSST NGÀY 14/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 14 tháng 10 năm 2017 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã V, huyệnK, tỉnh Hòa Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2017/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40 /2017/ HSST-QĐ, ngày 01 tháng 11 năm 2017, đối với  bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Đức L, Sinh ngày 29/03/1990;

- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Phố B, xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đức T (Đã chết);Con bà: Phạm Thị T, sinh n¨m 1966.Hiện trú tại: Phố B, xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1988, trú tại: Phố B, xã H,huyện K, tỉnh Hòa Bình. Con: 01 con 3 tháng tuổi. Gia đình bị cáo có 03 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Danh chỉ bản số 87 lập ngày 17 tháng 8 năm 2017 tại Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình: tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/ 8 /2017. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giam, tạm giữ của Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình. Được trích xuất có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

“ Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dụng vụ án được tóm tắt như sau”

Chiều ngày 10 tháng 8 năm 2017. Nguyễn Đức L có hỏi mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch 400.000 đồng ma túy đá tại: Phố X, quận Đ, thành phố Hà Nội . Người phụ nữ đưa cho Nguyễn Đức L 01 gói ma túy đá, L cầm cho vào túi quần và đi về nhà tại thị trấn B, HUYỆN K, tỉnh Hòa Bình.

Khoảng 1 giờ ngày 11 tháng 8 năm 2017 L về đến thị trấn B, L gặp Phạm Thanh T. L và T cùng rủ nhau vào quán ăn đêm. Tại quán ăn nhà anh Nguyễn Đức P ở khu T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. L và T đang ngồi ăn thì bị tổ tuần tra công tác Công an huyện K kiểm tra trong túi quần L có 01 gói ma túy đá nên đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng 01 gói ma túy đá.

Tại Biên bản kết luận giám định số 166/KLGĐ – CAT – PC 54 ngày 15 tháng 8 năm 2017: 01 gói ma túy đá của bị cáo L gửi giám định có trọng lượng 1,47 gam là chất ma túy Methamphetamine

Vật chứng thu giữ:

01 phong bì dán kín có dấu niêm phong kỹ thuật hình sự bên trong có chứa mẫu vật chứng sau giám định

01 chiếc điện thoại di động Samsung110.000 đồng Việt nam đồng

Đã bàn giao cho Cơ quan thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Hòa Bình

Cáo trạng số 39/CT – VKS ngày 23 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạm vào khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Đức L, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1Điều 194 và điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46, điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáoNguyễn Đức L từ 12 tháng tù đến 18  tháng tù.

Áp dụng Điều 41 BLHS, điều 76 BLTTHS: tuyên trả chiếc điện thoại Samsung và110.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Đức L . Tịch Thu 01 phòng bì niêm phong mẫu vật ma túy tiêu hủy

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Đức L: Đồng ý với ý kiến Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mức hình phạt bị cáo không có ý kiến tranh luận

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Đức L: Đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo tháng tù

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

“ Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện khách quan các chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo, người bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau”:

Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện K, điều tra viên, viện kiểm sát nhân dân huyện K, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức L thì cho thấy. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay. Bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vào khoảng 18 giờ ngày 10 tháng 8 năm 2017 bị cáo có mua 400.000 đồng ma túy đá của một người phụ nữ không rõ lai lịch tại phố X, quận Đ, thành phố Hà Nội . Bị cáo bỏ vào túi quần và đi về nhà ở thị trấn Bo, huyện K, tỉnh Hòa Bình với mục đích sử dụng. Vào khoảng 1 giờ ngày 11 tháng 8 năm 2017 bị cáo cùng với chị Phạm Thanh T đang ngồi ăn đêm tại quán nhà anh Nguyễn Quốc P tại khu T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình thì bị khám xét tại túi quần của bị cáo L có 01 gói ma túy dạng đá có trọng lượng 1,47gam, bị cáo đã ký vào biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang.

Xét lời khai nhận của bị cáo đã khớp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ đúng người đúng tội. Hội đồng xét xử chấp thuận vì bị cáo đã có hành vi tại thời điểm bị bắt bị cáo L đã cất giữ trong túi quần 01 gói ma túy đá có trọng lượng là 1,47 gam tiền chất ma túy, bị cáo không chứng minh được là sử dụng hay mua để bán hay để làm việc khác. Như vậy đã đủ căn cứ để quy kết bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy phạm vào khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xét tính chất hành vi và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra thì cho thấy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức được hành vi và việc làm đúng sai của mình trong xã hội, do bị cáo có sử dụng ma túy đá nên bị cáo mua nhằm tàng trữ để sử dụng dần. Hành vi sử dụng và tàng trữ tiền chất ma túy là chất gây nghiện nên nhà nước độc quyền quản lý. Mọi hành vi liên quan đến tiền chất ma túy đều bị cấm. Nếu ai cố tình vi phạm đều phải xử lý nghiêm khắc. Vì các tội phạm về ma túy đều xâm phạm chế độ độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Từ việc sử dụng ma túy phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự trị an của địa phương, gây bất bình trong nhân dân.

Tuy nhiên sau khi bị bắt bị cáo L khai báo thành khẩn, tại phiên tòa biết ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, thuộc hộ cận nghèo và vùng 135. Như vậy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p, khoản 1 và khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự

Căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015, theo hướng có lợi cho bị cáo thì được áp dụng. Tại khoản 1 điều 194 BLHS 1999 mức phạt từ 2 đến 7 năm tù. Tại khoản 1 điều249 BLHS 2015 quy định hình phạt từ 1 đến 5 năm tù. Như vậy Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt có lợi cho bị cáo L theo mức hình phạt Bộ luật hình sự 2015.

Từ các căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian nhất định, trước là cải tạo sau là giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội, đồng thời làm gương cho những ai đang muốn thực hiện hành vi phạm tội.

Về vật chứng cơ quan điều tra thu giữ:

01 phong bì dán kín có dấu niêm phong kỹ thuật hình sự bên trong có chứa mẫu vật chứng sau giám định01 chiếc điện thoại di động Samsung110.000 đồng Việt nam đồng

Hội đồng xét xử xét thấy ma túy của bị cáo L tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại Samsung và 110.000 đồng của bị cáo L không liên quan gì đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo điều 41 Bộ luật hình sự và điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyến Đức L phải nộp 200.000 đồng theo quy định tại điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 12 ( mười hai) tháng tù, thời gian chấp hànhhình phạt tù được tính từ ngày 11/8/2017

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì dán kín có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình, ghi tên đối tượng Nguyễn Đức L, bên trong chứa mẫu vật chứng sau giảm định

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức L

+ 01 chiếc điện thoại di động Samsung màu vàng nhạt. Mặt trước điện thoại có1 vết rạn nứt.Điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra bộ phận chất lượng bên trong của máy

+ 110.000 đồng tiền Việt nam đang lưu hành

(Chi tiết vật chứng nêu trên được ghi cụ thể tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 10  năm 2017 của chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Hòa Bình)

2. Về án phí: Áp dụng điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bịcáo Nguyễn Đức L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo trình tự phúc thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm.


83
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về