Bản án 39/2017/HSST ngày 01/09/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 39/2017/HSST NGÀY 01/09/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 01 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2017/TLST- HS ngày 04 tháng 8 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2017/HSST - QĐ ngày 18 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh P, sinh năm 1974, tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; Nơi  ĐKTT và nơi  cư trú:  ấp A, xã B, huyện Tân  Hiệp, tỉnh  Kiên  Giang; CMND/số hộ chiếu, số căn cước công dân: xxxxxxxxx; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, 63 tuổi; Vợ: Huỳnh Cẩm H; con có 02 người, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1994; tiền sự:  không; tiền án: ngày 05/3/2013 bị TAND tỉnh Kiên Giang xét xử 2 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” chấp hành xong ngày 30/8/2013; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 9/5/2017 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Dương Thị K , sinh năm 1964

Nơi cứ trú: ấp A, xã B, huyện Tân Hiệp, Kiên Giang

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

Huỳnh Văn T, sinh năm 1969

Nơi cứ trú: ấp A, xã B, huyện Tân Hiệp, Kiên Giang Vắng mặt.

Phan Thị Kiều T, sinh năm 1992

Nơi cư trú : ấp A, xã B, huyện Tân Hiệp, Kiên Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 31/01/2017 (Ngày mùng 4 tết Âm lịch) Nguyễn Thanh P có mượn một chiếc nhẫn đeo tay bằng vàng của con ruột là Nguyễn Thanh K mang sang nhà bà Dương Thị K ngụ ấp A, xã B, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang để thế chấp vay với số tiền là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) không tính lãi xuất, hai bên giao hẹn sang ngày hôm thì P sẽ trả lại cho bà K 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), còn bà K thì trả lại cho P một chiếc nhẫn vàng. Đến khoảng 11 giờ ngày 01/02/2017 tại nhà Nguyễn Thanh P có tổ chức uống rượu gồm có P, T, V, B, H, đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì nghỉ, lúc này Nguyễn Thanh P sang nhà bà K để hỏi vay thêm 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) thì gặp ông T (là chồng bà K), nói chuyện được một lúc thì giữa P và ông T xảy ra cự cải, xô đẩy nhau, lúc này P đi ra chỗ bà K đang đứng đòi đưa thêm 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) do ngày hôm trước đã đưa chiếc nhẫn cho bà K, lúc này bà K mới trả lời tiền hôm qua chưa trả nay mượn thêm tiền ở đâu mà có, nghe vậy P liền chửi bà K đồng thời dùng tay đánh vào mặt và trúng tai bên trái mặt bà K, lúc này bà K cũng dùng tay nắm đầu của P, sau đó cả hai buông ra, bà K bỏ vào quán còn P thì đi về nhà. Sau đó bà K đi khám và mua thuốc uống không nhập viện điều trị, đến ngày 06/02/2017 thì đến Bệnh Viện Bình An tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang điều trị đến ngày 09/02/2017 thì xuất viện.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 179/KL-PY ngày 27/3/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích của Dương Thị K như sau: “IV. PHẦN KẾT LUẬN

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo (phẫu thuật) xơ cứng vùng sau tai trái.

- Thủng màng nhĩ trái đã phẩu thuật vá màng nhỉ. Hiện tại tai trái nghe kém mức độ nặng.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 21% (Ha mươi mốt phần trăm).

3. Cơ chế hình thành thương tích: Do chấn thương trực tiếp hoặc gián tiếp vào màng nhĩ.

+ Chấn thương trực tiếp: Vật nhọn vật cứng đâm vào màng nhĩ.

+ Chấn thương gián tiếp: Khi áp lực mạnh tác động vào màng nhĩ (khi bị tát tai quá mạnh, bom mìn nổ lớn…)

4. Về chức năng thẩm mỹ và chức năng bộ phận cơ thể: Thương tích tai trái không gây ảnh hưởng thẩm mỹ, nhưng gây hạn chế chức năng nghe của tai trái mức độ nặng.

* Trách nhiệm dân sự:

- Bà Dương Thị K yêu cầu bồi thường tiền điều trị tổng cộng là  17.985.000 đồng (Mười bảy triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

- Sau khi gây án bị can đã tác động đến gia đình bồi thường cho bà K được tổng số tiền là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng), bà K đã có đơn bãi nại đối với bị can.

Bản Cáo trạng số 39/2017/CT – VKS ngày 04/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/02/2017, tại nhà bà Dương Thị K ngụ ấp A, xã B, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Thanh P đã dùng tay đánh bà Dương Thị K ở tai trái gây thương tích, đã phẩu thuật vá màng nhỉ, gây cố tật nhẹ. Tỷ lệ tổn thương do bị cáo Nguyễn Thanh P gây ra cho bà K là 21%. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Cố ý gây thương tích”. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi sai trái của mình, bị cáo đã bồi thường toàn tiền thuốc cho bị hại, bị hại làm đơn bãi nại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, 47, Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu đề nghị HĐXX miễn xét. Tại phiên tòa người bị hại làm đơn xin xét xử vắng mặt, về trách nhiệm hình sự đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vê trách nhiệm dân sự không yêu cầu bồi thường.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Hiệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, lời khai người bị hại, biên bản bắt quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/02/2017 bị cáo Nguyễn Thanh P sang nhà bà K hỏi vay 500.000đ thì gặp chồng bà K, tại đây hai bên lời qua tiếng lại dẫn đến xô xát nhau, sau đó bị cáo đi đến chổ bà K đứng và kêu bà K đưa cho bị cáo 500.000đ lúc này bà K mới trả lời tiền hôm qua chưa trả nay mượn thêm tiền ở đâu mà có, nghe vậy P liền chửi bà K đồng thời dùng tay đánh vào mặt bà K. Qua kết luận giám định pháp y về thương tích tỷ lệ thương tật vùng mắt ảnh hưởng đến mắt trái là 2/10 và chấn thương thủng màng nhĩ tai trái gây hạn chế chức năng nghe của tai trái mức độ nặng tỷ lệ tổn thương là 21%. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã tröïc tieáp xaâm phaïm  ñeán söùc khoûe cuûa ngöôøi khác mà còn gây rối làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn nơi xảy ra vụ án. Trong vụ án này qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra cho thấy bị cáo là người có đủ năng lực và nhận thức được hành vi của mình, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì trước nhưng bị cáo uống rượu say không giữ được sự bình tĩnh đã đánh bà K gây thương tích, mặc dù bị cáo không sử dụng hung khí mà dùng tay gây thương tích cho bà K 21% ảnh đến sức khỏe gây cố tật nhẹ cho bị hại, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với 1 tình tiết định khung tại điểm b khoản 1 điều 104 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm là cần thiết, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét về nhân thân: bị cáo có nhân xấu ngày 05/3/2013 bị TAND tỉnh Kiên Giang xét xử 2 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Sau khi phạm tội bị cáo đã thật thà, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi sai trái của mình, bị cáo đã bồi thường toàn bộ tiền thuốc cho bị hại. Tại phiên tòa bị hại làm đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

[7] Xét đề nghị của kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù là có cơ sở đúng quy định pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật là 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47, Điều 33 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 01 năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 9/5/2017.

-  Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử miễn xét.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Báo cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2017/HSST ngày 01/09/2017 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:39/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Hiệp - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về