Bản án 39/2017/HNGĐ-PT ngày 06/03/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 39/2017/HNGĐ-PT NGÀY 06/03/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 06 tháng 3 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 05/2015/TLPT-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2015, do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 40/2014/HNGĐ-ST ngày 10/10/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2017/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2017 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Vĩnh Hải, sinh năm 1976.

Trú tại: Xóm 5, xã Nghi Kim, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Anh Hải vắng mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn: Chị Lê Thị Hoa, sinh năm 1975.

Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Xóm 5, xã Nghi Kim, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Địa chỉ: Biệt thự 149, đường Sataw, thành phố Dubai, Các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE). Chị Hoa có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Đình Bảo và bà Trương Thị Nam.

Trú tại: Xóm 5, xã Nghi Kim, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông Bảo và bà Nam: Anh Nguyễn Vĩnh Hải, là nguyên đơn trong vụ án.

2. Ông Lê Trọng Tân, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị Xuân, sinh năm 1952.

Đều trú tại: Xóm 2, xã Hưng Khánh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông Tân có mặt tại phiên tòa và đại diện cho bà Xuân theo ủy quyền (Giấy ủy quyền đề ngày 20/12/2016).

NHẬN THẤY

* Trong Đơn xin ly hôn đề ngày 15/11/2013, lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Vĩnh Hải trình bày:

Anh và chị Hoa kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 23/7/2001 tại Uỷ ban nhân dân xã Hưng Khánh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Năm 2005, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh chị thống nhất cho chị Hoa đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Sau khi hết hạn hợp đồng 02 năm, chị Hoa gia hạn hợp đồng hai lần, đến năm 2010 chị Hoa có về thăm gia đình. Anh bàn với chị không đi nữa nhưng chị Hoa không nghe, nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, hiện nay chị Hoa không về nữa vì đã kết hôn với người khác. Nay anh nhận thấy mâu thuẫn gia đình trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên anh yêu cầu Tòa án được cho ly hôn với chị Hoa.

Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Nguyễn Lê Vĩnh Hiển, sinh ngày 12/10/2003, hiện nay cháu đang ở với anh. Nếu ly hôn anh yêu cầu nuôi con chung và chưa yêu cầu chị Hoa cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ngôi nhà hai tầng làm trên đất của ông Nguyễn Đình Bảo và bà Trương Thị Nam (bố mẹ anh Hải) xây năm 2009 hết 759 triệu đồng. Tiền gửi Ngân hàng ngoại thương - Chi nhánh Vinh là 780 triệu đồng chị Hoa đã rút cả gốc và lãi tháng 11/2012; 01 tủ lạnh; 01 bộ bàn ghế; 01 bộ dàn nhạc và một số đồ dùng sinh hoạt gia đình trị giá anh không biết. Nếu ly hôn, ngôi nhà không được bán mà để lại cho con chung là cháu Hiển, các tài sản khác yêu cầu chia đôi theo giá trị hiện tại. Về các khoản nợ, vợ chồng không nợ ai và không ai nợ. Còn chị Hoa vay nợ ai hoặc ai vay nợ anh không biết.

* Bị đơn - chị Lê Thị Hoa và người đại diện theo ủy quyền của chị Hoa trình bày:

Chị Hoa thừa nhận thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như anh Hải trình bày. Vợ chồng chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh Hải yêu cầu ly hôn, chị đồng ý.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung, nếu ly hôn chị xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh Hải cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng có khối tài sản chung gồm: 140m2 đất tại xóm 1, xã Nghi Kim, thành phố Vinh, anh Hải đã bán, chị không biết bán được bao nhiêu; 100 triệu đồng tiền mặt tích góp từ năm 2007; 01 xe máy; 01 tủ lạnh; 01 bộ bàn ghế salon gỗ; 01 bộ giàn nghe nhạc; 01 ti vi; 01 thửa đất 160m2 tại xóm 5 xã Nghi Kim, thành phố Vinh mua của ông Nguyễn Đình Châu, bà Trần Thị Loan với giá 136 triệu đồng; 01 ngôi nhà xây trên đất ông Bảo, bà Nam xây năm 2010 hết 759 triệu đồng và một số đồ dùng gia đình khác. Nếu ly hôn, chị Hoa yêu cầu chia theo pháp luật. Còn số tiền 20.000 USD và 350 triệu đồng là chị vay của chị Thúy bạn chị để làm vốn kinh doanh nhưng không làm nên chị gửi vào Ngân hàng và chị đã rút để trả lại cho chị Thúy đầy đủ.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Ông Nguyễn Đình Bảo và bà Trương Thị Nam trình bày: Ngôi nhà anh Hải, chị Hoa xây dựng là trên đất của ông bà cho mượn tạm. Khi vợ chồng làm nhà, ông bà đã bán thửa đất 140m2 tại xóm 1 xã Nghi Kim, thành phố Vinh được 480 triệu đồng cho vợ chồng anh Hải, chị Hoa vay làm nhà. Ông bà không đòi lại số tiền này mà để lại cho cháu Hiển. Còn thửa đất 160m2 mua của ông Châu, bà Loan năm 2009 với giá 136 triệu đồng, anh Hải đã chuyển nhượng cho ông bà trừ nợ 100 triệu đồng, vợ chồng dùng vào việc gì ông bà không biết.

- Ông Lê Trọng Tân và bà Phạm Thị Xuân trình bày: Đầu năm 2011, anh Hải, chị Hoa làm nhà, ông bà có đưa cho 122.100.000 đồng để thanh toán làm nhà, ông bà không đòi lại số tiền này.

Cháu Nguyễn Lê Vĩnh Hiển trình bày: Cháu là con bố Hải, mẹ Hoa, từ trước đến nay mẹ cháu đi nước ngoài, cháu ở với bố. Nay bố mẹ ly hôn cháu muốn ở với bố để ổn định học tập.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 40/2014/HNGĐ-ST ngày 10/10/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Áp dụng các Điều 89, 91, 92, 94, 95, 97 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 182, Điều 199; khoản 1 Điều 202; Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án xử:

Về tình cảm: Cho anh Nguyễn Vĩnh Hải và chị Lê Thị Hoa được ly hôn nhau.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Lê Vĩnh Hiển, sinh ngày 12/10/2003 cho anh Nguyễn Vĩnh Hải trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Lê Thị Hoa. Chị Hoa có quyền thăm con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản: Giao cho anh Nguyễn Vĩnh Hải được quyền sở hữu: 01 ngôi nhà 02 tầng nằm trên thửa đất số 1373, tờ bản đồ số 09 mang tên Nguyễn Đình Bảo tại xóm 5, xã Nghi Kim, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; 136 triệu đồng giá trị tiền chuyển nhượng thửa đất ông Châu, bà Loan; 01 ti vi Tosiba 32 inch đã hỏng, 01 bộ bàn ghế sanlon gỗ, 01 máy vi tính hỏng và một số dụng cụ sinh hoạt trong gia đình (các loại tài sản này không tính giá trị); tổng cộng tài sản anh Hải được sở hữu có giá trị 636 triệu đồng.

Giao cho chị Lê Thị Hoa được quyền sở hữu: Số tiền VNĐ rút từ thẻ tiết kiệm cả gốc và lãi 400.571.711 đồng; số tiền rút từ thẻ tiết kiệm cả gốc và lãi: 20.411 USD X 21.200/USD=432.713.200 đồng; 01 xe máy Safia Suzuki BKS 37M1-7685 mang tên chị Hoa, 01 tủ lạnh Panasonic 240 lít; 01 bộ dàn nhạc hiệu Sony 4 loa, một thớt (các loại tài sản này không tính giá trị). Tổng cộng chị Hoa được thừa hưởng số tài sản có giá trị 833.284.911 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/11/2014, bị đơn là chị Lê Thị Hoa có đơn kháng cáo đối với  bản án sơ thẩm nêu trên. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Lê Thị Hoa thay đổi nội dung đơn kháng cáo và trình bày: Chị rút kháng cáo về quan hệ hôn nhân và con chung, chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét lại phần tài sản, cụ thể:

- Căn nhà 02 tầng được xác định giá trị còn lại 500.000.000 đồng là thấp.

- Đối với 140m2 đất tại xóm 1, xã Nghi Kim, thành phố Vinh: Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền 371.000.000 đồng trong số tiền bán 140m2 đất nêu trên đưa vào xây nhà là không đúng.

- Đối với 160m2 đất tại xóm 5, xã Nghi Kim, thành phố Vinh: Vợ chồng chị đứng ra mua của ông Nguyễn Đình Châu và bà Trần Thị Loan, đã lập văn bản vào năm 2009. Anh Hải khai anh đã tự ý bán cho ông Nguyễn Đình Bảo, nhưng ông Bảo lại xuất trình văn bản là bà Loan đã bán đất cho ông Bảo nhưng Tòa không xem xét. Trong khi đó, Tòa án lại lấy giá đất năm 2009 là 136.000.000 đồng để xác định tài sản chung là gây thiệt hại cho chị.

Đối với số tiền 20.000 USD và 350.000.000 đồng gửi Ngân hàng, Tòa án cấp sơ thẩm cho là tài sản chung là không đúng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý theo trình tự phúc thẩm tới thời điểm xét xử phúc thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Từ khi thụ lý vụ án theo trình tự phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Vĩnh Hải; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình Bảo và bà Trương Thị Nam không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Đối với những người tham gia tố tụng khác: Đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/11/2014, bị đơn chị Lê Thị Hoa kháng cáo tòa bộ bản án (Đơn kháng cáo không có xác nhận của Cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước sở tại nơi chị Hoa đang sinh sống).

Trong vụ án này, khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án, chị Hòa không có mặt tại Việt Nam mà đi xuất khẩu lao động (hiện tạm trú tại Biệt thự 149, đương Sataw, thành phố Dubai, các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) nên chị Hoa không có mặt tham gia giải quyết vụ án. Tài liệu do chị Hoa xuất trình gồm có: Đơn kê khai tài sản ngày 03/3/2014; Đơn đề nghị BL 73b; Giấy vay nợ; Giấy chứng minh; Đơn kháng cáo đều được chị Hòa gửi từ nước người về nhưng không có xác nhận của Cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước sở tại nơi chị Hoa đang sinh sống. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/11/2016, chị Lê Thị Hoa có mặt tại phiên tòa, có lời khai xác nhận Đơn kháng cáo và nội dung kháng cáo và các tài liệu nêu trên do chị Hoa là người trực tiếp viết, thể hiện ý chí của chị Hoa. Thấy rằng đủ điều kiện được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Lê Thị Hoa kháng cáo đề nghị xem xét lại một phần bản án sơ thẩm (phần chia tài sản chung của vợ chồng).

Xét thấy: Về phần chia tài sản chung của vợ chồng, lời khai của anh Nguyễn Vĩnh Hải và chị Lê Thị Hoa có nhiều mâu thuẫn, cụ thể:

Về thửa đất 140m2 tại xóm 1, xã Nghi Kim, thành phố Vinh: Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, anh Hải khai là nguồn gốc là của bố mẹ anh Hải cho. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Hải xác định là tài sản của vợ chồng. Anh Hải đã bán và chi tiêu hết. Chị Hoa khai thửa đất là do vợ chồng mua. Về số tiền bán đất 371.000.000 đồng, anh Hải không đưa vào xây nhà mà tiền xây nhà có khoản 321.000.000 đồng gửi tiết kiệm rút ra xây. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào lời khai của anh Hải xác định số tiền trên anh Hải đưa vào làm nhà là chưa có căn cứ vững chắc.

Về thửa đất 160m2 tại xóm 5, xã Nghi Kim, thành phố Vinh mua của ông Châu, bà Loan hiện giữa anh Hải và chị Hoa còn tranh chấp: Anh Hải khai là đã bán cho vợ chồng ông Bảo (gán nợ); chị Hoa cho rằng đất vẫn thuộc quyền sử dụng của vợ chồng và yêu cầu được chia. Lời khai mâu thuẫn nhưng chưa lấy lời khai của ông Châu, bà Loan để làm rõ; Tòa án cấp sơ thẩm chưa thẩm định tại chỗ và không tiến hành định giá tài sản, chưa xác minh việc anh Hải bán mảnh đất trên mà mặc nhiên công nhận việc anh Hải bán đất là vi phạm pháp luật dân sự, không đảm bảo quyền lợi của đương sự.

Về số tiền gửi Nân hàng 832.000.000 đồng: Anh Hải khai là tiền của vợ chồng, anh Hải thừa nhận số tiền này do chị Hoa lao động ở nước ngoài tích góp được; còn chị Hoa khai số tiền này do chị vay của chị Nguyễn Thị Thúy hiện đang lao động cùng chị Hoa ở các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) để mở cửa hàng kinh doanh cho anh Hải. Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác minh làm rõ.

Như vậy, việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ; tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, cần hủy một phần bản án sơ thẩm phần chia tài sản chung của vợ chồng, nên kháng cáo của bị đơn chị Lê Thị Hoa là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Lê Thị Hoa; hủy một phần (phần chia tài sản chung của vợ chồng) Bản án sơ thẩm số 40/2014/HNGĐ-ST ngày 10/10/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, tranh luận của các đương sự, ý kiến của kiểm sát viên, sau khi nghị án;

XÉT THẤY

Về tố tụng: Chị Hoa là bị đơn trong vụ án, sau khi xét xử sơ thẩm có kháng cáo và có làm giấy ủy quyền đề ngày 16/12/2016 cho ông Lê Trọng Tân, thay mặt chị tham gia phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, chị Hoa có ý kiến không ủy quyền cho ông Tân nữa. Ông Tân và vợ là bà Phạm Thị Xuân (bố mẹ chị Hoa) tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Bà Xuân vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có giấy ủy quyền cho ông Tân đề ngày 16/12/2016. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Tân có kháng cáo nhưng quá thời hạn luật định. Tòa án cấp phúc thẩm đã xét đơn kháng cáo của ông Tân với kết quả không chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn của ông Tân. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét đơn kháng cáo của chị Hoa.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn anh Lê Vĩnh Hải, người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình Bảo và bà Trương Thị Nam (bố mẹ anh Hải) đều  vắng mặt. Về vụ án này, Tòa án cấp phúc thẩm đã nhiều lần ra quyết định mở phiên tòa để xét xử theo thủ tục phúc thẩm và đều có giấy triệu tập hợp lệ anh Hải, ông Bảo, bà Nam đến dự phiên tòa nhưng các lần triệu tập đều vắng mặt. Cụ thể, tại Biên bản giao giấy triệu tập đề ngày 04/01/2016, bà Nam đã thay mặt ông Bảo, anh Hải nhận Giấy triệu tập số 3186 ngày 11/12/2015. Các lần triệu tập tiếp theo anh Hải và ông Bảo, bà Nam đều không hợp tác, không ký nhận, hoặc từ chối nhận giấy triệu tập, được thể hiện tại Biên bản xác minh đề ngày 01/3/2017 do Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An kết hợp với chính quyền nơi cư trú của các đương sự thực hiện. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Hải, ông Bảo và bà Nam.

Xét kháng cáo của chị Lê Thị Hoa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại phiên tòa, chị Hoa thay đổi nội dung kháng cáo, không yêu cầu xem xét lại phần giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung của Tòa án cấp sơ thẩm, chỉ yêu cầu xem xét lại phần giải quyết về tài sản chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về quan hệ hôn nhân, con chung mà chỉ xem xét, giải quyết nội dung kháng cáo của chị Hoa về tài sản.

Tài sản tranh chấp trong vụ án này là 01 ngôi nhà làm trên đất của ông Bảo, bà Nam tại thửa đất 1373, tờ bản đồ số 09; số tiền bán thửa đất có diện tích 140m2 tại xóm 1, xã Nghi Kim, thành phố Vinh; thửa đất có diện tích 160m2 tại xóm 5, xã Nghi Kim, thành phố Vinh; số tiền 20.000 USD và 350.000.000 đồng gửi Ngân hàng Ngoại thương - Chi nhánh Vinh (đã rút hết cả gốc và lãi); một số động sản khác chị Hoa không kháng cáo.

Về thửa đất 1373 nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Bảo, bà Nam là có căn cứ. Quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án cấp sơ thẩm, các bên đương sự đều thống nhất khai ngôi nhà 02 tầng trên thửa đất nêu trên là tài sản chung của anh Hải và chị Hoa, được xây năm 2010 hết 759.000.000 đồng. Khi xác định giá trị căn nhà, anh Hải và người đại diện theo ủy quyền của chị Hoa là luật sư Lê Trung Hiếu thống nhất xác định giá trị còn lại của căn nhà là 500.000.000 đồng và không yêu cầu định giá. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị còn lại của căn nhà là 500.000.000 đồng và giao cho anh Hải được quyền sở hữu ngôi nhà 02 tầng nằm trên đất thuộc quyền sử dụng của ông Bảo, bà Nam là phù hợp.

Đối với số tiền bán 140mđất tại xóm 1, xã Nghi Kim, thành phố Vinh: Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, anh Hải và chị Hoa, cũng như người đại diện theo ủy quyền của chị Hoa đều thống nhất diện tích đất nêu trên là tài sản chung vợ chồng. Anh Hải khai đã chuyển nhượng cho người khác vào năm 2008 với số tiền 480.000.000 đồng. Chị Hoa nêu rằng chị không biết việc anh Hải bán đất, bán cho ai và được bao nhiêu tiền. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, chị Hoa không yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất nêu trên, chỉ yêu cầu giải quyết về số tiền bán đất mà anh Hải đang quản lý. Về yêu cầu này của chị Hoa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại cấp sơ thẩm, anh Hải khai số tiền 480.000.000 đồng anh đã chi 86.000.000 đồng mua mảnh đất 160m2 tại xóm 5, xã Nghi Kim, mua xe máy và làm nhà vào năm 2010 đã hết, nên không còn tài sản chung. Chị Hoa cho rằng tiền xây nhà không lấy vào tiền bán đất, mà lấy từ nguồn khác, đã có bảng kê. Căn cứ sổ theo dõi chi tiêu trong gia đình do chị Hoa xuất trình, tại BL32 thể hiện: Tiền bán đất được 480.000.000 đồng, chi tiền mua đất hết 86.000.000 đồng, trích mua xe máy hết 23.000.000 đồng, còn lại 371.000.000 đồng. Như vậy, nếu theo lời khai của anh Hải thì số tiền 371.000.000 này anh Hải dùng vào việc xây nhà. Trong khi đó, cũng tại sổ theo dõi chi tiêu nêu trên, tại BL 29 có mục ghi “Tổng tiền làm nhà” hết 760.000.000 đồng gồm 06 khoản cụ thể nhưng không có khoản tiền 371.000.000 đồng.

Như vậy, theo mục kê khai chi phí làm nhà nêu trên thì chưa thể hiện việc anh Hải sử dụng số tiền bán đất 371.000.000 đồng để xây nhà như Tòa án cấp sơ thẩm xác định. Trong trường hợp này cần xem xét, đánh giá  từng khoản tiền nêu trong các bảng kê nêu trên, từ đó mới có cơ sở khẳng định số tiền 371.000.000 đồng mà anh Hải quản lý có dùng vào việc xây nhà như anh Hải khai hay không. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai anh Hải mà không đánh giá các nội dung nêu trên là thiếu sót, dẫn đến việc xác định số tiền 371.000.000 đồng anh Hải đã sử dụng vào việc xây nhà là chưa phù hợp với các tình tiết khách quan khác. Những vấn đề cần xác minh Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được. Do đó, cần giao về Tòa án cấp sơ thẩm để cho đối chất, xác minh, làm rõ các nội dung trên. Nếu các khoản tiền làm nhà đúng như trong bảng kê thì cần xác định số tiền 371.000.000 đồng anh Hải đang quản lý là tài sản chung vợ chồng để chia cho các bên.

Đối với 160m2 đất tại xóm 5, xã Nghi Kim: Xét thấy, tại “Giấy giao nhận tiền chuyển nhượng đất ở” đề ngày 10/12/2009 (BL23) thể hiện bên nhận chuyển nhượng là anh Nguyễn Vĩnh Hải và ông Nguyễn Đình Bảo, nhưng có nội dung cam kết giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng như sau: “Ông Nguyễn Đình Châu nhất trí chuyển nhượng cho ông Nguyễn Vĩnh Hải (con trai ông Nguyễn Đình Bảo) với diện tích đất vườn chuyển sang đất ở là 160m2… giá chuyển nhượng 136.000.000 đồng…” và phần cuối của tài liệu nêu trên có phần ghi chú là “Cùng ngày 10/12/2009 phía bên chuyển nhượng đã nhận của anh Hải 86.000.000 đồng; còn lại 50.000.000 đồng bên nhận chuyển nhượng sẽ trả đầy đủ sau khi xong thủ tục giấy tờ”. Theo lời khai của chị Hoa, sau khi chị về nước đã trực tiếp trả cho ông Châu 50.000.000 đồng còn lại. Lời khai này của chị Hoa phù hợp với nội dung tại bảng kê Sổ theo dõi chi tiêu tại BL 32, nội dung cụ thể là “mẹ về trả tiền đất bác Châu 50.000.000 đồng”. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, ông Bảo, bà Nam đều khẳng định chính vợ chồng ông bà là người nhận chuyển nhượng đất từ ông Châu, bà Loan và xuất trình “Giấy biên nhận tiền” đề ngày 02/6/2013 có nội dung bà Loan và con trai bà Loan có bán diện tích đất trên cho ông Bảo và đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng đất 136.000.000 đồng là mâu thuẫn, không phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá hết toàn diện các tài liệu nêu trên đã khẳng định chị Hoa không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh có việc giao dịch nhận chuyển nhượng đất giữa vợ chồng anh Hải, chị Hoa với vợ chồng ông Châu, bà Loan là chưa  xem xét, đánh giá toàn diện các tình tiết khách quan nêu trên.

Hơn nữa, Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Hải, chị Hoa đã bỏ ra số tiền 136.000.000 đồng để mua đất của ông Châu, bà Loan thì cần phải xác định thửa đất nhận chuyển nhượng là tài sản chung vợ chồng và việc anh Hải tự ý chuyển nhượng lại cho ông Bảo, bà Nam không có sự đồng ý của chị Hoa cần phải xác định hợp đồng vô hiệu và phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm mặc nhiên công nhận việc chuyển nhượng đất giữa anh Hải với ông Bảo, bà Nam và xác định số tiền 136.000.000 đồng bỏ ra nhận chuyển nhượng đất từ năm 2009 là tài sản chung của anh Hải, chị Hoa để chia làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị Hoa khi giá trị đất có nhiều biến đổi. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, chị Hoa khẳng định không có việc anh Hải đã chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho ông Bảo, bà Nam nên khi vụ án được giải quyết lại cũng cần xác minh làm rõ nội dung này.

Đối với số tiền 20.000 USD và 350.000.000 đồng (cả gốc và lãi tương đương 833.284.911 đồng), Tòa án cấp sơ thẩm xác định là tài sản chung của anh Hải và chị Hoa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoản tiền này anh Hải và chị Hoa gửi Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Vinh tại 02 sổ tiết kiệm gồm:

- Tiền gửi ngày 03/10/2011, chị Hoa rút ngày 12/11/2012, cả gốc và lãi khi rút 400.571.711 VND;

- Tiền gửi tiết kiệm ngày 03/10/2011, chị Hoa rút ngày 12/11/2012, cả gốc và lãi khi rút: 20.411 USD.

Số tiền nêu trên anh Hải cho là tài sản chung vợ chồng; chị Hoa cho là vay của chị Nguyễn Thị Thúy để mở xưởng sửa chữa ô tô nhưng không thực hiện được nên chị đã rút trả chị Thúy. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, chị Hoa xuất trình “Giấy vay nợ” đề ngày 01/10/2011 có nội dung chị Hoa vay chị Thúy số tiền 40.000 USD với lãi suất 10%/năm. Tại cấp phúc thẩm, chị Hoa xuất trình “Bản cam đoan” đề ngày 31/05/2016 có nội dung chị Hoa đã hoàn trả đầy đủ số tiền vay 40.000 USD cho chị Thúy. Với các tài liệu nêu trên chưa đủ căn cứ để xác định số tiền đang tranh chấp là chị Hoa vay của chị Thúy. Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện và bản tự khai của anh Hải (BL 46) đều thể hiện tài sản chung vợ chồng không có gì. Xét về thu nhập các bên thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Hải khẳng định số tiền nêu trên do chị Hoa đi làm ở nước ngoài tích cóp. Như vậy, anh Hải đã thừa nhận nguồn gốc số tiền đang tranh chấp là do chị Hoa làm ra. Trong khi đó, theo Sổ chi tiêu gia đình anh Hải lập thì chị Hoa thường xuyên gửi tiền về cho anh Hải để phục vụ cuộc sống chung gia đình. Vì vậy, cần phải xác minh thu nhập của chị Hoa nhằm làm rõ chị Hoa có khả năng có số tiền lớn dư ra sau khi đã chi phí cho gia đình như đã nêu trên hay không; lấy lời khai của chị Thúy, cần thiết thì phải đưa chị Thúy vào tham gia tố tụng để đối chất làm rõ việc vay nợ nêu trên, cũng như cần làm rõ có việc anh Hải có ý định mở xưởng sữa chữa ô tô không?. Khi làm rõ các vấn đề nêu trên mới có đủ cơ sở để xác định số tiền đang tranh chấp là do chị Hoa làm ra hay chị Hoa vay của chị Thúy. Trong trường hợp xác định số tiền nêu trên là tài sản chung vợ chồng thì cần xem xét công sức của các bên khi chia tài sản.

Như vậy, khi giải quyết về tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm còn có các thiếu sót nêu trên mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Ngoài ra, một số chứng cứ quan trọng như “Sổ theo dõi chi tiêu trong gia đình’’ do chị Hoa xuất trình (BL 14-32); “Giấy giao nhận tiền chuyển nhượng đất ở” (BL 23)… mà Tòa án cấp sơ thẩm thu thập được đều là bản photo, không được công chứng hoặc đối chiếu với bản chính nên cấp sơ thẩm cũng cần khắc phục khi vụ án được xét xử lại.

Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng có cơ sở chấp nhận  kháng cáo của bị đơn chị Lê Thị Hoa. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử hủy một phần Bản án sơ thẩm về tài sản để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.

Do phần tài sản bị hủy nên phần án phí về tài sản cũng cần phải hủy để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Bản án sơ thẩm bị hủy một phần nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

1.Chấp nhận kháng cáo của bị đơn là chị Lê Thị Hoa, hủy quyết định về phần tài sản và án phí chia tài sản tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 40/2014/HNGĐ-ST ngày 10/10/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết lại phần tài sản và án phí theo thủ tục chung.

2. Chị Lê Thị Hoa không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn lại cho chị Hoa 200.000 đồng số tiền nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai số AA/2012/0000750 ngày 14/11/2014 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


188
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 39/2017/HNGĐ-PT ngày 06/03/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

      Số hiệu:39/2017/HNGĐ-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:06/03/2017
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về