Bản án 38/2021/DS-ST ngày 22/02/2021 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 38/2021/DS-ST NGÀY 22/02/2021 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:459/2020/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

08/2021/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2021/QĐST-DS ngày 27 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T ; Trụ sở: Đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991 là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số: 813/2020/UQ-TTT ngày 07/10/2020).

Bị đơn: Bà Đỗ Thị Thu T1, sinh năm 1984; Trú tại: đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2020 và quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có ông Nguyễn Ngọc M đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 11/05/2012 bà Đỗ Thị Thu T1 có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và sử dụng thẻ tín dụng số 970403- 5336 với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và đã được Ngân hàng cấp thẻ với hạn mức là 7.000.000 đồng, lãi suất : 2,15%/tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, hình thức tín chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T1đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 16.440.000 đồng và thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền 27.562.000 đồng, thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 2 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng nên ngày 23/02/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn được quy định tại Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu một mình bà T1phải thanh toán số tiền còn nợ tổng cộng 5.595.493 (Năm triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm chín mươi ba) đồng. Bao gồm nợ gốc: 2.923.688 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.671.805 đồng, yêu cầu thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Buộc bà T1 có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 23/02/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn bà Đỗ Thị Thu T1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Đỗ Thị Thu T1 phải thanh toán số tiền còn nợ tổng cộng 5.595.493 (Năm triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm chín mươi ba) đồng. Bao gồm nợ gốc:

2.923.688 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.671.805 đồng), yêu cầu thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bà T1có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 23/02/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật :

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về tố tụng: quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo kết quả xác minh của Công an Phường 13, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Đỗ Thị Thu T1 có đăng ký tạm trú tại đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 15/4/2012 đến năm 2013 đã chuyển đi hiện nay không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Ngoài ra, kết quả xác minh của công an phường T1Biều, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế thì bà Đỗ Thị Thu T1, sinh năm 1984 không đăng ký thường trú tại 536 Bùi Thị Xuân, Thủy Biều, Thành phố Huế, không rõ thời gian chuyển đi và nơi ở hiện tại của bà Thủy. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/5/2012 bà Đỗ Thị Thu T1 cung cấp địa chỉ hiện tại đang sinh sống là đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, địa chỉ đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bà Đỗ Thị Thu T1 nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý đồng thời triệu tập bị đơn đến tòa để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa nhưng phía bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 ; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến tòa để trình bày ý kiến, hòa giải, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Ngày 27/01/2021, Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự đến để tham gia xét xử nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa đồng thời thông báo cho các đương sự sẽ mở lại phiên tòa vào ngày 22/02/2021 nhưng bị đơn vẫn không đến tham gia phiên tòa mà không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án lập biên bản ghi nhận về việc không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình :

Trong vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012, trường hợp này Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phải tham gia phiên tòa theo quy định.

[2] Về nội dung:

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 970403- 5336 đã ký ngày 11/5/2012, lời khai của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định bị đơn có sử dụng thẻ tín dụng để thực hiện các giao dịch và đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 27.562.000 đồng, sau đó không tiếp tục thanh toán. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 22/02/2021, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 5.595.493 đồng (bao gồm nợ gốc: 2.923.688 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.671.805 đồng).

Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 5.595.493 đồng (bao gồm nợ gốc: 2.923.688 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.671.805 đồng) và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 23/02/2021 cho đến khi bị đơn thanh toán dứt nợ vay theo mức lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 970403- 5336 đã ký ngày 11/5/2012 là phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 và Khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

[3] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật. Hoàn lại tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 207 ; Khoản 1, Khoản 2 Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Điều 8; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T:

1.1. Buộc bà Đỗ Thị Thu T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T số tiền nợ: 5.595.493 (Năm triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm chín mươi ba) đồng. Bao gồm nợ gốc: 2.923.688 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.671.805 đồng.

Bà Đỗ Thị Thu T1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 23/02/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 970403- 5336 đã ký ngày 11/5/2012 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.

Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

1.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Thu T1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0068534 ngày 22/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị theo luật định.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

330
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2021/DS-ST ngày 22/02/2021 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:38/2021/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/02/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về