Bản án 38/2020/HNGĐ-ST ngày 22/12/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 38/2020/HNGĐ-ST NGÀY 22/12/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:361/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y - sinh năm 1996 Địa chỉ: 60 Trần K, phường Vĩnh T, thành phố N, Khánh Hòa. Bà Y có mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Đình D - sinh năm 1992 Địa chỉ: Thôn T, xã Diên S, huyện D, Khánh Hòa Đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam A2, cục C10 - Bộ công an (tại xã Diên L, huyện D, Khánh Hòa).

Ông D có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc Y trình bày:

Bà và ông Huỳnh Đình D tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh T, thành phố N vào năm 2014. Quá trình chung sống, hai vợ chồng sống với nhau không có hạnh phúc, thường xuyên bất đồng quan điểm. Năm 2019, ông D vi phạm pháp luật bị phạt tù, hiện nay đang chấp hành án tại trại giam A, bà Y nhận thấy việc chấp hành án của ông D tạo gánh nặng cho mẹ con bà. Nay bà xác định không còn tình cảm gì với ông D, khó có thể hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà Y và ông D có một con chung là Huỳnh Gia H, sinh ngày 06/12/2014, hiện đang sống với bà Y. Bà Y có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Do ông D đang chấp hành án phạt tù nên bà không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y xác định không có.

- Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai cùng ngày 24/11/2020, bị đơn ông Huỳnh Đình D trình bày:

Ông và bà Huỳnh Thị Ngọc Y chung sống với nhau tự nguyện và kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh T, thành phố N vào năm 2014. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống không có hạnh phúc; từ năm 2019, ông phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam A nên không thể quan tâm, chăm sóc vợ con và điều này gây ra gánh nặng cho gia đình. Nay bà Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn với bà Y vì ông xác định không thể hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình.

Về con chung: Vợ chồng ông có con chung là Huỳnh Gia H, sinh ngày 06/12/2014. Khi ly hôn, ông đồng ý để bà Huỳnh Thị Ngọc Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đương sự tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc Y đối với bị đơn ông Huỳnh Đình D. Giao con chung Huỳnh Gia H, sinh ngày 06/12/2014 cho bà Huỳnh Thị Ngọc Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Huỳnh Đình D. Bà Y xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Bà Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Huỳnh Đình D vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Huỳnh Đình D.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y và ông Huỳnh Đình D tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 09/9/2014 và được Ủy ban nhân dân phường Vĩnh T, thành phố N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/2014, đây là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Đình D vì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, bà không còn tình cảm với ông D. Bị đơn ông Huỳnh Đình D xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn với bà Y. Như vậy, đời sống chung giữa bà Y và ông D không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Ngọc Y là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y và ông Huỳnh Đình D có một con chung là Huỳnh Gia H, sinh ngày 06/12/2014. Bà Y có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Ông D đồng ý để bà Yến trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho bà Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông D.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y và ông Huỳnh Đình D đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

thẩm.

[2.4] Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Huỳnh Thị Ngọc Y được ly hôn với ông Huỳnh Đình D.

2. Về con chung: Giao con chung Huỳnh Gia H, sinh ngày 06/12/2014 cho bà Huỳnh Thị Ngọc Y trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Huỳnh Đình D. Ông D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, bà Y và ông D đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y và ông Huỳnh Đình D xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0001... ngày 14/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh. Như vậy, bà Y đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành, theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. 


93
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2020/HNGĐ-ST ngày 22/12/2020 về ly hôn

Số hiệu:38/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về