Bản án 38/2020/DS-ST ngày 25/05/2020 về hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 38/2020/DS-ST NGÀY 25/05/2020 VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 132/2020/TLST- DS ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2020/QĐXX- ST ngày 14 tháng 5 năm 2020 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Ấp AH, xã ANĐ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An

2.Bị đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1980 Địa chỉ: Ấp RD, xã MHB, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 3 năm 2020, trong những lời khai tiếp theo tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Bà với bà Huỳnh Thị D có mối quan hệ quen biết do bà con lối xóm với nhau. Bà có cho bà D vay các khoản tiền sau: 01/7/2016 bà có cho bà D vay 40.000.000 đồng; ngày 04/8/2016, bà có cho bà D vay 30.000.000 đồng. Lãi suất hai bên thoa thuận là 1%. Thời hạn trả nợ là hết tháng 12/2016. Quá trình vay nợ bà D không trả vốn và lãi cho đến nay mặc dù bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà D cứ hẹn hết lần này đến lần khác. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa giải quyết buộc bà D phải trả nợ vay cho bà là 70.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định.

Bị đơn bà Huỳnh Thị D trình bày: Bà có thừa nhận vay bà Đ số tiền trên nhưng bà đã trả xong không còn nợ.

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Đ không đồng ý lời trình bày của bà Diệu và xác định bà chưa nhận số tiền nào do bà Diệu trả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà theo quy định Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Bà Đ cho rằng bị bà Diệu xâm phạm quyền lợi của bà nên bà có quyền khởi kiện theo quy định Điều 186 BLTTDS.

[2] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của bà Đ và bà D có trong hồ sơ và tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử thấy rằng: bà D có vay tiền bà Đ 02 lần vào ngày 01/7/2016 và ngày 04/8/2016 với số tiền là 70.000.000 đồng. Các đương sự đều thừa nhận việc này nên Hội đồng xét xử công nhận đây là tình tiết sự thật của vụ án không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Các vấn đề tranh chấp:

[3.1]. Bà D cho rằng bà đã trả cho bà Đ xong nhưng không được bà Đ thừa nhận và bà D không có chứng cứ gì chứng minh. Do đó cần buộc bà D trả cho bà Đ 70.000.000 đồng tiền vốn.

[3.2]. Về lãi suất: Lãi suất trong hạn đối với số tiền 40.000.000 đồng vay ngày 01/7/2016 x 1% x 6 tháng = 2.400.000 đồng; lãi suất trong hạn đối với số tiền 30.000.000 đồng vay ngày 04/8/2016 x 1% x 5 tháng = 1.500.000 đồng; lãi suất quá hạn bà Đ chỉ yêu cầu 1.125% là phù hợp nên sớ lãi được tính như sau: từ ngày 01/1/2017 đến khi xét xử sơ thẩm đối với số tiền 70.000.000 đồng x 1,125%/tháng x 3 năm 4 tháng 24 ngày = 32.130.000 đồng. Tổng cộng tiền lãi là 36.030.000 đồng.

Từ phân tích [3.1] và [3.2] nêu trên cần buộc bà Huỳnh Thị D trả cho Nguyễn Thị Đ với số tiền là 106.030.000 đồng.

[4] Về án phí: Bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Căn Điều 35, Điều 184, Điều 186, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” với bà Huỳnh Thị D.

Buộc bà Huỳnh Thị D phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ 70.000.000 đồng tiền vốn và 36.030.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng 106.030.000 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu không trăm ba mươi ngàn đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tính lãi chậm thi hành.

2/Về án phí: Buộc bà Huỳnh Thị D phải nộp 5.301.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Hoàn lại bà Nguyễn Thị Đ 2.445.000 đồng theo biên lai số 4902 ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2020/DS-ST ngày 25/05/2020 về hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:38/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về