Bản án 38/2019/HSPT ngày 24/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 38/2019/HSPT NGÀY 24/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 456/2018/TLPT-HS ngày 26/12/2018 đối với bị cáo Thái Đại C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 309/2018/HSST ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: THÁI ĐẠI C, sinh năm: 1987, tại: tỉnh Đắk Lắk; Nơi ĐKHKTT: Thôn 7, xã C , huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn P, xã E, huyện P, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ học vấn: 10/12; con ông không rõ nhân thân lai lịch và bà Thái Thị H, sinh năm 1962; bị cáo có vợ là Huỳnh Thị Lệ H – sinh năm 1994 và 02 con: con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại bản án số 76/2016/ HSST ngày 10/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích” tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2018, hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thái Đại C là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đá từ tháng 8 năm 2018. Khoảng 21h00’ ngày 15/8/2018, C ngồi nhậu tại phòng trọ số 05 thuộc dãy trọ 123/9 đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cùng với các bạn là Bùi Văn P, Võ mạnh D, Trương Công L, Châu Hoàng T và Dương Ngọc M, thì C rủ mọi người góp tiền mua ma túy đá về sử dụng nhưng không có ai trả lời. C tiếp tục ngồi nhậu cho đến 21h30’ thì thấy Huỳnh Văn H là em vợ của C, đi chơi về. C nói với H đi chơi với anh, rồi C lấy xe mô tô mang biển kiểm soát 47M1-123.66 của Châu Hoàng T chở H đi đến đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk gặp một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) nhờ mua giúp C 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) ma túy đá, thì nam thanh niên nói C chờ. Khoảng 15 phút sau, nam thanh niên quay lại đưa cho C một gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá. Tại đây, C nói với nam thanh niên cho hút thử một hơi thì nam thanh niên này đốt một đầu của dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh rồi đưa cho C hút nhưng C không hút mà quay lại nói H hút. H hút một hơi rồi đưa mdụng cụ sử dụng ma túy cho C, C đưa cho nam thanh niên số tiền 500.000 đồng rồi chở H về lại phòng trọ. Trên đường về, C đã làm rơi và vỡ dụng cụ sử dụng ma túy.

Khi về đến phòng trọ, H lên gác nằm nghỉ còn C đặt gói nylon chứa ma túy đá dưới nền nhà trước mặt C và nói ai sử dụng thì góp tiền vào, nhưng không có ai nói gì và cũng không có ai góp tiền. Đến khoảng 22h20’cùng ngày, công an phường T, thành phố B kiểm tra phát hiện bắt quả tang Thái Đại C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ một túi nylon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, sau đó được niêm phong theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số: 730/GĐMT-PC09 ngày 21/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2820 gam, loại: Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2531 gam, được niêm phong.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 309/2018/HSST, ngày 20/11/2018 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự mnăm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Thái Đại C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thái Đại C 02 (hai) năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 76/2016/HSST ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo Thái Đại C 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Buộc bị cáo Thái Đại C phải chấp hành chung cho cả hai bản án là: 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/8/2018 được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam của Bản án số 76/2016/HSST ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 18/7/2016 đến ngày 07/9/2016.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/11/2018, bị cáo Thái Đại C có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại hồ sơ và giải quyết lại vụ án vì bị cáo bị người khác lạm dụng chức quyền để lừa gạt kết tội và chiếm đoạt tài sản, thực tế số ma túy sau khi mua về bị cáo đã sử dụng hết.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và không thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ, cơ sở kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chấp ma túy. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đơn kháng cáo kêu oan của bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 309/2018/HS - ST ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Bị cáo không đồng ý với ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát và cho rằng toàn bộ số ma túy bị cáo đã sử dụng hết nên không phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào nội dung vụ án, căn cứ vào các tài có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa sơ thẩm, đơn kháng cáo và tại phiên tòa hôm nay bị cáo cho rằng: Vào khoảng 21 giờ 30 ngày 15/8/2018, bị cáo Thái Văn C cùng em vợ là Huỳnh Văn H điều khiển xe máy đi mua 500.000 đồng ma túy về sử dụng. Sau khi mua xong, bị cáo chở H về lại phòng trọ và vào nhà vệ sinh sử dụng hết nên không phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Việc bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội tại Cơ quan Điều tra cũng như lời khai của những người làm chứng cho rằng bị cáo chưa sử dụng số ma túy mua về mà để ngay dưới chỗ ngồi của mình là do bị đánh đập, ép cung.

Tuy nhiên, bị cáo thừa nhận, quá trình lấy lời khai của những người làm chứng bị cáo không được chứng kiến, bị cáo từ chối ghi âm, ghi hình việc lấy lời khai nên không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc bị cáo và những người làm chứng bị đánh đập, ép cung, bức cung. Tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 22/10/2018 tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (BL 97) khi Kiểm sát viên hỏi trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, bị cáo có bị ép cung, dùng nhục hình không ? bị cáo cũng thừa nhận là không. Mặt khác, bị cáo cho rằng cơ quan Công an không thu giữ được ma túy của bị cáo nhưng tại các biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, bị cáo đều thừa nhận khi Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang đã thu giữ gói ma túy, niêm phong và cho C ký xác nhận (BL 69 – 72). Lời khai này của bị cáo cũng phù hợp với tang vật thu giữ được của vụ án khi gửi đi trưng cầu giám định là: “chất rắn màu trắng được niêm phong trong một phong bì có các chữ ký ghi tên: Thái Đại C, Huỳnh Văn H, Bùi Văn P, Châu Hoàng T, Dương Ngọc M, Võ Mạnh D, Trương Công L....” (BL 23 – 24). Như vậy, việc bị cáo kháng cáo cho rằng bị cáo bị kết tội oan là không có căn cứ để chấp nhận.

[2]. Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nhưng cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo tái phạm là không đúng . Do vậy không áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo chỉ kháng cáo kêu oan, không xin giảm nhẹ hình phạt, mặt khác, mức hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tình chất và hành phạm tội. Do đó HĐXX thấy rằng cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 309/2018/HS – ST ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Căn cứ điêm a khoản 1 Điêu 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Thái Đại C.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 309/2018/HS- ST ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột

[2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Thái Đại C 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 76/2016/HSST ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo Thái Đại C 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Buộc bị cáo Thái Đại C phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/8/2018, bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam trước tại Bản án số 76/2016/HSST ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 18/7/2016 đến ngày 07/9/2016.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Thái Đại C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

138
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2019/HSPT ngày 24/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:38/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về