Bản án 38/2018/DS-PT ngày 24/08/2018 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 38/2018/DS-PT NGÀY 24/08/2018 VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sư thụ lý số: 25/2018/DS-PT ngày 11 tháng 5 năm 2018 về “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do Bản án dân sư sơ thẩm số: 04/2018/DS-ST, ngày 21 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 46/2018/QĐ-PT ngày 11-7-2018; Quyêt đinh hoan phiên toa sô: 58/2018/QĐ-PT ngay 10-8-2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngân Thị S ; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyên K, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.

Ngươi đai diên theo uy quyên cua nguyên đơn : Ông Trân Đưc P ; đia chi: Sô 49/1/7, đương L , phương T , quân T , thành phố Hồ Chí Minh  (Văn bản uỷ quyên ngay 06-12-2017) - Có mặt.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Lang Hông L ; địa chỉ: Thôn Đ, xã N , huyên K , tỉnh Đăk Nông - Có mặt.

2.2. Ông Hưa Văn  S; địa chỉ: Thôn S , xã N, huyên K , tỉnh Đăk Nông  - Có mặt .

3. Người kháng cáo: Bà Ngân Thị S

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngay13-3-2017 và trong quá trình giải quyết vụ á,nnguyên đơn ba Ngân Thi S trình bày: Ngày 10-4-2009 bà Ngân Thi S được tuyển dụng làm kế toán tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) xã N, huyên K, tỉnh Đắk Nông. Quá trình công tác bà Ngân Thi S đã thực hiện theo sự chủ đạo của Chủ tịch UBND xã N là ông Lang Hồng L và Phó Chủ tịch UBND xã N la ông Hưa Văn S đê hơp thưc hoá chứng từ đôi vơi môt sô k oản chi của UBND xã N . Kêt luân thanh tra sô : 01/KL-CTTr ngay 07-4-2015 của Chánh Thanh tra huyện K  (viết tắt là Kết luận thanh tra số 01) về việc sai phạm trong vông tác kế toán, bà Ngân Thị S phải hoàn trả ngân sách Nhà nước sô tiên 47.420.000 đồng. Tuy nhiên, bà Ngân ThiS cho rằng sai phạm của bà là có sự chỉ đạo của ông Lang Hông L va ông Hưa Văn S. Do đó, bà Ngân Thi S khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Lang Hông L va ông Hưa Văn S trả lại cho bà sô tiên 38.233.000 đồng. Cụ thể: Phiếu chi Sô 04 ngày 07-2-2013, ông Lang Hông L phải trả 7.031.500 đồng, ông Hưa Văn S phải trả 7.031.500 đồng; phiếu chi số 14 ngày 25-3-2013, ông Lang Hông L phải trả 400.000 đồng, ông Hưa Văn S phải trả 1.200.000 đồng; phiếu chi sô16 ngày 25-3-2013, ông Hưa Văn S phải trả 1.200.000 đồng; phiếu chi sô 46 ngày 18-6 2013, ông Lang Hông L phải trả 2.800.000 đồng; phiếu chi số 168 ngày 04-12-2013, ông Hưa Văn  S phải trả 9.900.000 đồng; phiếu chi số 169 ngày 20-12-2013, ông Hưa Văn  S phải trả 8.370.000 đồng; phiếu chi số 155, ngày 07-11-2015 và phiếu chi số 161 ngày 07-11- 2013, ông Lang HôngL phải trả 1.500.000 đồng.

Bị đơn là ông Lang Hồng L trình bày: Trong thời gian giư chức vụ Chủ tịch UBND xã N nhiệm kỳ năm 2011-2016, ông Lang Hông L đã phát hiện bà Ngân Thi S có hanh vi sai phạm trong quá trình thực hiện kế toán nên đa yêu cầu Thanh tra huyện tiến hadnh thanh tra công tac kế toán. Kết luận thanh tra số 01, kết luận từ năm 2012-2014 số tiên sai phạm là 263.598.610 đồng, trong đo ba Ngân Thi S có nghĩa vụ nộp trả ngân sách nhà nước 47.420.00 đồng. Ngày 09-4-2015 Chánh Thanh tra huyên K đa ban hanh Quyêt đinh số 02/QĐ-CTTr (viết tắt là Quyết định số 02) thu hôi lại số tiền sai phạm. Bà Ngân Thị S không co khiêu nai đối với Kết luận thanh tra số 01 và Quyết định số 02 của Chánh Thanh tra huyện K, đồng thời đa nôp sô tiên 47.420.000 đồng vào ngân sách nhà nước. Bản thân ông Lang Hông L cũng phải hoàn trả ngân sách Nhà nước số tiền 62.416.000 đồng theo Kết luận thanh tra số 01. Vì vậy , ông Lang Hông L không chấp nhận yêu cầu khơi kiên cua ba Ngân Thi S.

Bị đơn ông Hứa Văn S trình bày : Bà Ngân Thị S  có sai pham trong qua trình thực hiện thu , chi và đa đươc Kêt luân thanh tra  sô 01 nêu rõ. Ông Hưa Văn S cũng đã hoàn trả ngân sách nhà nước số tiền 110.000 đồng theo Kết luận thanh tra số 01. Vì vậy, ông Hưa Văn S đề nghị Toà án không chấp nhận yêu câu khơi kiên cua ba Ngân Thi S.

Bản án số : 04/2018/DS-ST ngay  21-3-2018 của Toà án nhân dân huyện Krông Nô: Căn cứ khoản 3 Điêu 26; điêm a khoan  1 Điêu 35; điêm a khoan  1 Điêu 39; Điêu 147; Điêu 244 Bô luât Tô tung  dân sư ; Điêu 17; Điêu 19; Điêu 52; Điêu 54 Luât Kê toan năm 2003; Điêu 58 Luât Thanh tra năm 2010; Điêu 26 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quôc h ội quy định về án phí , lê phi Toa an . Quyết định: Không chấp nhận yêu câu khơi kiên  của bà Ngân Thị S . Ngoài ra, Toà án bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23-3-2018 bà Ngân Thị S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm , yêu câu Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà . Tại phiên tòa phúc thẩm, ngươi đai diên  theo uy quyên cua nguyên đơn   giư nguyên yêu câu khơi kiên va nội dung kháng cáo.

Đai diên Viên kiêm sat nhân dân tinh Đăk Nông phat biêu: Căn cứ khơi kiên cua ba  Ngân Thi S la Kêt luân thanh tra sô 01 và Quyêt đinh sô 02 của Chánh Thanh tra huyện K. Tuy nhiên, tại Kết luận thanh tra sô 01 và Quyết đinh sô 02 nêu trên đa nêu rõ nội dung sai pham và số tiền của từng cá nhân phải thu hồi, trong đo co ba  Ngân Thi S. Trong trương hơp nay  Tòa án không cân phai thu thâp xác minh chứng cứ cũng kết luận được là quyền và  lợi ích hợp pháp của bà Ngân Thi S không bị xâm phạm. Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điêu 2 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngay 05-05-2017 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao , đề nghị Hôi đông xet xư  căn cứ vào điêm a khoản 1 Điều 192; điểm g khoan 1 Điêu 217; khoản 4 Điêu 308; Điêu 311 của Bộ luật Tố tụng dân sư, huỷ bản án số: 04/2018/DS-ST ngày 21-3-2018 của Toà án nhân dân huyện Krông Nô và đình chỉ giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1]. Kêt luân  thanh tra sô 01 và Quyết định số 02 của Chánh Thanh tra huyên K đa kết luận rõ nội dung sai pham và sô tiên phải thu hôi cu thê đôi vơi tưng ca nhân , trong đo ba Ngân Thi S phai  hoàn trả ngân sách nhà nước sô tiên 47.420.000 đông. Sau khi nhân đươc Kêt luân  thanh tra sô 01 và Quyết định số 02 của Thanh tra huyện K, bà Ngân Thi S không khiêu nại hoặc khởi kiện. Do đó, Kêt luân thanh tra sô 01 và Quyết định số 02 đã có hiệu lực pháp luật.

[2]. Ngày 13-3-2017 bà Ngân Thi S khơi kiên yêu câu To  à án buộc ông Lang Hông L và ông Hưa Văn S phải trả cho bà sô tiên 38.786.000 đồng (trong tổng sô tiên 47.420.000 đông bà Ngân Thi S đã nộp vào ngân sách nhà nước) và kèm theo đơn khởi kiện là Kêt luân  thanh tra sô 01 và Quyết định số   02 để chưng minh cho yêu câ u khơi kiên cua minh. Trong trương hơp nay Toà án nhân dân huyện Krông Nô không cân phai xac minh , thu thâp chưng cư cũng đu căn cư đê kêt luân quyên va lơi ich hơp phap cua ba Ngân Thi S không bi xâm phạm. Tại khoản 2 Điêu 2 Nghị quyết số : 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-05-2017 của Hội đồng Thâm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quy định

“ Điều 2: Về người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô thụ lý đơn khởi kiện của bà Ngân Thi S và đưa vụ án ra xét xử là không đúng với hướng dẫn tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngay 05-05-2017 của Hội đồng Thâm phán Toà án nhân dân tối cao . Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, cần hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô và đình chỉ giải quyết vụ án.

[3]. Vê an phi: Trả lại cho ba Ngân Thi S 970.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thâm và 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đa nôp.

Vì các lẽ trên;

Căn cư vao điêm a khoan 1 Điêu 192; điêm g khoan 1 Điêu 217; khoản 4 Điêu 308; Điêu 311 của Bộ luật Tố tụng dân sư,

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ bản án sơ thẩm số : 04/2018/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô và đình chỉ giải quyết vụ án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điêu 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự ; áp dụng khoan 3 Điêu 18 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:

Trả lại cho ba Ngân Thi S  970.000đ (Chín trăm bảy mươi nghìn đông) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0000035 ngày 04-8-2017 và 300.000đ (Ba trăm nghin đông) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai sô: 0000192 ngày 09-4-2018 tại Chi cục Thi hành ándân sư huyện K.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


149
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về