Bản án 38/2017/HS-ST ngày 22/09/2017 về tội buôn lậu

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 38/2017/HS-ST NGÀY 22/09/2017 VỀ TỘI BUÔN LẬU

Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2017/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2017 đối với các bị cáo: 

1. Hoàng Văn T, sinh ngày: 23/01/1998, tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn, trú tại: Thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 9/12. Con ông: Hoàng Văn Y và bà: Phan Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2017 đến ngày 12/6/2017 chuyển tạm giam, đến ngày 11/7/2017 được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh, có mặt.

2. Nông Văn B, sinh ngày: 12/11/1993, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Trú tại: Khu S, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nông Văn D và bà: Phan Thị H, vợ,con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2017 đến ngày 12/6/2017 chuyển tạm giam, đến ngày 14/7/2017 được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh, có mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 06 giờ 00 phút sáng, ngày 09/6/2017 tại thôn G, xã YK, huyện L, tỉnh Lạng Sơn tổ công tác Đồn Công an C phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn T sinh ngày 23/01/1998 trú tại: Thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và Nông Văn B sinh ngày 12/11/1993 trú tại: Khu S, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đang vận chuyển pháo nổ do Trung Quốc sản xuất để mang về bán. Tổ công tác Đồn Công an C đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm:

- 10 (mười) giàn pháo hình vuông, có kích thước 15cm x15cm ( loại 36 quả/giàn. 01 ba lô màu đen, 01 túi xách màu xanh.

- 01 (một) bánh pháo hình tròn có chiều dài 110cm (loại pháo được tết thành dây, cuộn thành bánh hình tròn).

- 12 (mười hai) quả pháo nổ dạng hình lựu đạn có kích thước đường kính đầu tròn là 04cm, đường kính phần trụ là 02cm.

- 01 (một) bệ phóng pháo hình tròn có đường kính 04cm, chiều dài 30cm. Tại biên bản xác định trọng lượng pháo nổ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình ngày 09/6/2017 đã xác định được: Số pháo nổ do Hoàng Văn T và Nông Văn B vận chuyển có tổng trọng lượng là 15,8 kg (mười năm phẩy tám ki lô gam). Các bị cáo khai nhận trước đó vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 08/6/2017 khi đang làm thuê ở xưởng mộc thuộc huyện NM, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, Hoàng Văn T có nói với Nông Văn B về việc mua pháo nổ về Việt Nam để sử dụng và bán kiếm lời. B nhận lời giúp giao dịch mua Pháo cho T, vì B biết nói tiếng dân tộc Trung Quốc. Sau đó B cùng T ra chợ NM mua pháo nổ, B trực tiếp giao dịch để T mua 10 hộp pháo giàn loại 36 quả một giàn, 12 quả pháo nổ hình dạng lựu đạn và một dây pháo được cuộn tròn với số tiền 290NDT (hai trăm chín mươi nhân dân tệ) sau khi mua được pháo T cho số pháo đã mua vào trong hai ba lô rồi cả hai mang toàn bộ số pháo mua được về phòng trọ của T, tại nơi T và B làm thuê. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 09/6/2017 T và B đón xe khách cùng nhau lấy pháo lên xe vận chuyển số pháo trên về Việt Nam, khi về đến gần khu vực biên giới, cả hai xuống xe mỗi người xách một ba lô bên trong đựng pháo nổ đi theo đường mòn vượt biên trái phép về Việt Nam, khi về đến khẩu C, thuộc thôn C, xã YK, huyện L cả hai lên xe ô tô biển kiểm soát 30S-4554 do anh Phạm Xuân Đ điều khiển để về nhà, khi xe ô tô đi đến khu vực thôn G, xã YK, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị tổ công tác đồn Công an C bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Bản cáo trạng số 38/KSĐT- KT ngày 26/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn T, Nông Văn B về tội "Buôn lậu” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 153 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 153; Điều 20; Điều 53; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, Nông Văn B từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ đã thu giữ của các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay các bị cáo Hoàng Văn T, Nông Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào khoảng 06 giờ 00 phút sáng ngày 09/6/2017, tổ công tác Đồn Công an C, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, đang làm nhiệm vụ tại thôn G, xã YK, huyện L, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn T và Nông Văn B đang có hành vi vận chuyển pháo nổ do Trung Quốc sản xuất để mang về quê đốt và bán kiếm lời. Vật chứng thu giữ gồm:

- 10 (mười) giàn pháo hình vuông, có kích thước 15cm x15cm ( loại 36 quả/giàn). 01 ba lô màu đen, 01 túi xách màu xanh.

- 01 (một) bánh pháo hình tròn có chiều dài 110cm (loại pháo được tết thành dây, cuộn thành bánh hình tròn).

- 12 (mười hai) quả pháo nổ dạng hình lựu đạn có kích thước đường kính đầu tròn là 04cm, đường kính phần trụ là 02cm.

- 01 (một) bệ phóng pháo hình tròn có đường kính 04cm, chiều dài 30cm. Tại biên bản xác định trọng lượng pháo nổ của cơ quan Cảnh sát điều tra

Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn ngày 09/6/2017 đã xác định được số pháo nổ do bị cáo Hoàng Văn T và Nông Văn B vận chuyển có tổng trọng lượng là 15,8 kg là hàng cấm có số lượng lớn. Theo quy định tại tiểu mục 2.3 mục III Thông tư liên tịch số 06/2008 ngày 25/12/2008 của BCA-VKSNDTC-TANDTC, hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo:

“Người nào mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép pháo nổ có số lượng từ 10kg đến 50kg” (thì được coi là số lượng lớn). Do đó các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Văn B đã phạm tội “ Buôn lậu”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 153 của Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng số 38/KSĐT- KT ngày 26/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Văn B về tội "Buôn lậu” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 153 của Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng hành vi phạm tội, đúng pháp luật, không oan.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử nhận định; Các bị cáo Hoàng Văn T, Nông Văn B có thể chất phát triển bình thường, có sự hiểu biết xã hội nhất định, nhận thức được hành vi mua bán pháo nổ là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán pháo nổ là mặt hàng mà Nhà nước ta cấm lưu hành. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, vì pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu thông trên thị trường, Nhà nước ta không cho phép bất cứ tổ chức, cá nhân nào kinh doanh các loại pháo nổ dưới mọi hình thức. Hành vi của các bị cáo mua pháo nổ do Trung Quốc sản xuất vận chuyển vào lãnh thổ Việt Nam tiêu thụ là hành vi buôn lậu hàng cấm qua biên giới. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng đối với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Xét tính chất đồng phạm trong vụ án này thấy rằng; bị cáo Hoàng Văn T là người chủ mưu, khởi xướng và là người trực tiếp thực hiện tội phạm, bị cáo đã chủ động nhờ Nông Văn B trao đổi, giao dịch mua bán pháo nổ ở bên Trung Quốc với mục đích mang về quê đốt chơi và bán lại để kiếm lời, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này. Đối với bị cáo Nông Văn B mặc dù không có thỏa thuận về góp tiền mua pháo nổ và ăn chia nếu vận chuyển trót lọt pháo nổ vào Việt Nam, nhưng khi được bị cáo T nhờ thì bị cáo đã tích cực giúp bị cáo T đi trao đổi, giao dịch mua pháo nổ ở bên Trung Quốc và cùng vận chuyển số pháo nổ mua được về qua đường mòn khu vực biên giới C, để về Việt Nam cho bị cáo Hoàng Văn T. Xét vai trò của bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này là hành vi giúp sức, do đó bị cáo là đồng phạm với bị cáo T nên cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Hội đồng xét xử, xét thấy: Các bị cáo là dân lao động, cả hai bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Xét thấy chưa cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam đối với các bị cáo mà vẫn đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh về tài sản đối với bị cáo Hoàng Văn T ngày 07/7/2017 và biên bản xác minh về tài sản đối với bị cáo Nông Văn B ngày 15/6/2017 thể hiện các bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Vật chứng của vụ án: Tịch thu để tiêu hủy 15,8 kg pháo nổ các loại.

Đối với Phạm Xuân Đ là chủ xe ô tô biển kiểm soát 30S-4554 chở T và B nhưng không biết việc vận chuyển pháo nổ của Hoàng Văn T và Nông Văn B nên Cơ quan điều tra không xử lý về hình sự là có căn cứ.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Văn B phạm tội “Buôn lậu”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 153; Điều 20; Điều 53; điểm h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 12 (mười hai ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, được tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2017). Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

- Xử phạt bị cáo Nông Văn B 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, được tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2017). Giao bị cáo Nông Văn B cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự; 

- Tịch thu tiêu hủy 15,8 kg pháo nổ các loại, trong đó gồm; 10 (mười) giàn pháo hình vuông, có kích thước 15 x15cm ( loại 36 quả/giàn). 01 ba lô màu đen, 01 túi xách màu xanh, 01 (một) bánh pháo hình tròn có chiều dài 110cm (loại pháo được tết thành dây, cuộn thành bánh hình tròn), 12 (mười hai) quả pháo nổ dạng hình lựu đạn có kích thước đường kính đầu tròn là 04cm, đường kính phần trụ là 02cm và 01 (một) bệ phóng pháo hình tròn có đường kính  04cm, chiều dài 30cm. (Toàn bộ tang vật của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, theo phiếu nhập kho vật chứng ngày 31 tháng 8 năm 2017 của Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


108
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về