Bản án 373/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ

 BẢN ÁN 373/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1320/2019/TLST-HNGĐ ngày 20/6/2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 450/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13/11/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm: 1991

Địa chỉ: 875, khu 5, ấp 2, xã A, thành phố B, tỉnh Đ

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1985

Địa chỉ: 875, khu 5, ấp 2, xã A, thành phố B, tỉnh Đ

(Bà V, ông B vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn B đăng ký kết hôn vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 06/7/2012, cuộc sống hôn nhân ban đầu hạnh phúc, từ đầu năm 2018 thì bắt đầu xãy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, mâu thuẫn trở nên gay gắt từ đầu năm 2019 đến nay, cả hai đã cố gắng hàn gắn đoàn tụ nhưng không thành. Bà và ông B ly thân từ tháng 4 năm 2019 đến nay. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn quan tâm nhau, không còn tình cảm với nhau nữa nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà và ông B có 01 con chung là cháu Nguyễn Tấn Phát, sinh ngày 17/12/2012. Khi ly hôn bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phát, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự khai không có.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày: Không có lời khai do vắng mặt.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị V, bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn B; Về con chung: giao cháu Phát cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, ông B không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: không đặt ra xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn bà Lê Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà V, ông B.

[2] Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thẩm quyền của Tòa án: Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố B.

[4] Về xác định tư cách đương sự: Bà V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông B nên xác định bà V là nguyên đơn, ông B là bị đơn.

[5] Về nội dung:

[5.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lê Thị V và ông Nguyễn Văn B có đăng ký kết hôn vào năm 2012, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 06/7/2012, hôn nhân tự nguyện, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà V trình bày thì quá trình hôn nhân ban đầu hạnh phúc, từ đầu năm 2018 thì bắt đầu xãy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, mâu thuẫn trở nên gay gắt từ đầu năm 2019 đến nay, cả hai đã cố gắng hàn gắn đoàn tụ nhưng không thành. Bà và ông B ly thân từ tháng 4 năm 2019. Nay bà xác định tình cảm đã không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông B.

Tại biên bản xác minh ngày 14/10/2019 của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B cung cấp mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V và ông B thì địa phương chưa nắm được thông tin, hiện bà V và ông B đã ly thân.

Tại biên bản xác minh ngày 14/10/2019 của Công an phường A, thành phố B xác nhận ông Nguyễn Văn B có đăng ký tạm trú tại địa chỉ 875, khu 5, ấp 2, xã A, thành phố B, tỉnh Đ. Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập ông B theo địa chỉ trên, nhưng vẫn vắng mặt không có lời khai.

Từ những lý do trên cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà V và ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, các bên đã cố hàn gắn đoàn tụ nhưng không thành. Đây là căn cứ cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5.2] Về con chung: có 01 con chung là cháu Nguyễn Tấn Phát, sinh ngày 17/12/2012. Bà V đã cung cấp được chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi con và hiện cháu Phát đang do bà V chăm sóc nuôi dưỡng nên cần tiếp tục giao cháu Phát cho bà V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời ông B không phải cấp dưỡng nuôi con do bà V không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 9, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Lê Thị V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn Phát, sinh ngày 17/12/2012 cho bà Lê Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời ông B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông B có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Bà Lê Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà V đã nộp theo biên lai thu số 0008401 ngày 12/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B. Bà V đã nộp xong.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 373/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:373/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về