Bản án 37/2020/HNGĐ-PT ngày 04/03/2020 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 37/2020/HNGĐ-PT NGÀY 04/03/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H, xét xử phúc thẩm, công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số 14/TLPT-HNGĐ ngày 02/01/2020 về “Tranh chấp ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 67/2019/HNGĐ-ST, ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 14/2020/QĐPT-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự : 

* Nguyên đơn: Chị Đinh Thị C, sinh năm 1978 

Nơi ĐKHKTT: Số 230 phố Khâm Thiên, phường Thổ Quan, quận Đ, thành phố H.

Cư trú tại: Thôn 8, xã Hạ Long, huyện V tỉnh Q. 

* Bị đơn: Anh Đỗ Anh T, sinh năm 1970 

Nơi ĐKHKTT: Số 230 phố K, phường T, quận Đ, thành phố H.

Cư trú tại: Số 2 ngách 129 ngõ T phường V, quận Đ, thành phố H.

(Chị Đinh Thị C và anh Đỗ Anh T có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án sơ thẩm, nguyên đơn chị Đinh Thị C trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Đỗ Anh T kết hôn tự nguyện, có đăng ký tại Sở Tư pháp tỉnh Q ngày 04/7/2001. Sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống tại H được 06 tháng thì anh T sang Nhật Bản làm ăn sinh sống, chị sinh con và cư trú cùng mẹ đẻ ở Q.

Đến năm 2013, chị trở lại H ở tại nhà số 2 ngách 129 ngõ T (Là nhà của bố mẹ anh T). Thời gian này anh T vẫn cư trú bên Nhật, còn chị và con vẫn ở tại địa chỉ trên. Đến năm 2016, anh T trở về Việt Nam, vợ chồng chung sống tại số 2 ngách 129 ngõ T, phường V. Từ đầu năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống. Hơn nữa, do vợ chồng sống xa cách quá nhiều năm nên cuộc sống vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc và tình cảm vợ chồng cũng đã nhạt nhòa. Bản thân chị phải lo toan kinh tế, mọi việc trong gia đình trong nhiều năm vợ chồng sống xa cách. Anh T vô tâm, không có sự cảm thông, chia sẻ. Khi chị nói với anh T việc đi ra nước ngoài làm kinh tế một thời gian thì anh T không đồng ý và nói nếu đi thì vợ chồng ly hôn.

Đến tháng 5 năm 2019 chị về Q ở với bố mẹ đẻ chị. Anh T và con vẫn ở tại số 2 ngách 129 ngõ T, phường V quận Đ, H. Chị xác nhận hôn nhân giữa chị và anh T không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Đỗ Thanh D (nữ) sinh ngày 25/4/2002. Ly hôn, chị tôn trọng nguyện vọng của cháu D. Trường hợp cháu có nguyện vọng ở với anh T thì chị đồng ý và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung (Động sản, bất động sản): Chị xác nhận vợ chồng không có tai sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Theo bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án sơ thẩm bị đơn anh Đỗ Anh T trình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Đinh Thị C kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Q vào ngày 04/7/2001. Sau khi kết hôn được gần một năm thì anh sang Nhật Bản làm ăn sinh sống, còn chị C và con về cư trú cùng mẹ đẻ ở Q. Theo anh thì vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Anh vẫn thấy cuộc sống chung vợ chồng bình thường. Mâu thuẫn theo anh là do chị C muốn đi du lịch sang Canada theo lời mời của một ai đó nên anh không đồng ý vì vợ chồng sống ly thân xa cách đã nhiều năm nên mới xảy ra việc chị C nói vợ chồng mâu thuẫn và bỏ về nhà mẹ đẻ ở Quảng Ninh từ tháng 5 năm 2019 đến nay. Anh xác nhận đã để chị C vất vả nhiều, sức khỏe của anh không tốt nên không giúp đỡ, không quan tâm được cho chị C trong cuộc sống vợ chồng dẫn đến chị C chán nản và đòi ly hôn với anh. Bản thân anh khi biết chị C có ý định đi nước ngoài, anh đã điện thoại nói chuyện, khuyên giải mong chị C nghĩ lại nhưng chị C không đồng ý và vẫn cương quyết ly hôn anh. Nay chị C yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý. Anh xác nhận tình cảm của anh với chị C vẫn còn và xin được đoàn tụ. Trường hợp chị C kiên quyết yêu cầu ly hôn, anh đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giải quyết.

- Về con chung: Anh và chị C có 01 con chung là Đỗ Thanh D (nữ) sinh ngày 25/4/2002. Ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi con chung và tôn trọng nguyện vọng của cháu D. Trường hợp anh được nuôi con, anh đồng ý mức chị C cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung (Động sản, bất động sản): Anh xác nhận vợ chồng không có tai sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 67/2019/HNGĐ-ST, ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H đã quyết định như sau:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị C. Chị Đinh Thị C được ly hôn anh Đỗ Anh T.

2. Về con chung: Xác nhận chị Đinh Thị C và anh Đỗ Anh T có 01 con chung là Đỗ Thanh D, sinh ngày 25/4/2002.

Giao cháu Đỗ Thanh D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị C cấp dưỡng nuôi con là 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng). Việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 12/2019 cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định pháp luật khác thay thế.

Chị C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản, nhà ở chung: Chị C và anh T không có tài sản, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xét.

4. Về nợ: Chị C và anh T xác nhận vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xét.

Ngoài ra cấp sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo bản án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/11/2019 anh Đỗ Anh T kháng cáo không đồng ý ly hôn và xin đoàn tụ.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Anh Đỗ Anh T giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Chị Đinh Thị C đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các bên không tự thỏa thuận, giải quyết được tranh chấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố H tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị bác kháng cáo của anh Đỗ Anh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Xét nội dung kháng cáo của anh Đỗ Anh T Chị Đinh Thị C kết hôn với anh Đỗ Anh T trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Q ngày 04/7/2001, đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống được chưa đầy 01 năm thì anh T sang Nhật Bản làm ăn, chị C ở nhà nuôi con. Thời gian xa cách quá dài, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc, gần gũi, yêu thương nhau. Đến năm 2016, anh Cường về Việt Nam sống chung với chị C và con tại số 2 ngách 129 ngõ T đã xẩy ra mẫu thuẫn do không hợp quan điểm, tính cách và mục đích cuộc sống. Anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 5/2019 đến nay do mẫu thuẫn trầm trọng, không thể khắc phục.

Chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết xin ly hôn; anh T không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được phương án nào để cải thiện, hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, hôn nhân giữa chị C và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anh T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung, tài sản, nhà ở và công nợ chung các đương sự không kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên như quyết định của bản án sơ thẩm.

Kết luận của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

* Về án phí: Anh Đỗ Anh T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình phúc thẩm. Từ những nhận định trên! - Căn cứ Điều 19, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015.

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Xử: Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 67/2019/HNGĐ-ST, ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H và quyết định cụ thể như sau:

[1] Về tình cảm:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị C đối với anh Đỗ Anh T. Chị Đinh Thị C và anh Đỗ Anh T được ly hôn.

[2] Về con chung: Xác nhận chị Đinh Thị C và anh Đỗ Anh T có 01 con chung là cháu Đỗ Thanh D, sinh ngày 25/4/2002 Giao cháu Đỗ Thanh D cho anh Đỗ Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị C có nghĩa vụ đóng góp nuôi con chung là 4.000.000/tháng (Bốn triệu đông) kể từ tháng 12/2019 cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan có thẩm quyền.

Chị C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

[3] Về tài sản (Động sản, bất động sản) và nợ chung: Chị Đinh Thị C và anh Đỗ Anh T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[4]. Về án phí:

- Chị Đinh Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AN/2010/0009198 ngày 20/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đ. Chị C đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

- Anh Đỗ Anh T phải chịu 300.000 đồng phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AN/2010/ 0009564 ngày 09/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đ. Anh T đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm.

Án xử công khai, phúc thẩm, có hiệu lực kể từ ngày 04/3/2020.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2020/HNGĐ-PT ngày 04/03/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:37/2020/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/03/2020
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về