Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 15/10/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 37/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/10/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 15 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2019, về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1986.

Địa chỉ: ấp 2, xã 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: ấp 2, xã 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng: Bà Giang Thị D, sinh năm 1965.

Địa chỉ: ấp 2, xã 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị L có mặt tại phiên tòa, ,anh T và bà D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2019, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng L trình bày: Chị và anh T cưới nhau năm 2014, hôn nhân do mai mối và tìm hiểu nhau đi đến hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã 1. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc. Thời gian sau anh T ăn chơi, không lo cho gia đình và vợ chồng cự cải nhau rất nhiều, đến tháng 5 năm 2017, anh T tự ý bỏ đi nên vợ chồng không còn sống chung với nhau. Sau khi không còn sống chung có gặp nhau một lần để hàn gắn tình cảm nhưng không hàn gắn được. Cha mẹ hai bên có gặp nhau để hàn gắn tình cảm cho anh chị nhưng cũng không được. Nay chị Nguyễn Thị Hồng L yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn T vì tình cảm không còn. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T không đến Tòa án để tham gia các phiên họp, phiên hòa giải và không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.

Theo biên bản lấy lời khai của người làm chứng Giang Thị D ngày 08/8/2019, bà Giang Thị D khai: Bà là mẹ ruột của anh Bùi Văn T, đến ngày Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà D thì anh T vẫn còn chung hộ khẩu thường trú với bà D. Về tình cảm của anh T và chị L thì bà D trình bày: Thời gian đầu T làm có tiền đưa cho L thì hạnh phúc, một tuần T đưa cho L 2.000.000đ, thời gian sau T làm ăn không được nên T đã bỏ đi nơi khác, không còn sống chung với L, ngoài ra bà không biết L và T có mâu thuẫn gì khác hay không. Khi T và L không còn sống chung hai gia đình có gặp nhau để bàn chuyện hai con nhưng cha mẹ L yêu cầu cắt hộ khẩu, lúc này chưa yêu cầu ly hôn. Sau thời gian trao đổi thì gia đình bà cũng đồng ý mang sổ hộ khẩu đến Công an xã 1 cắt hộ khẩu cho L, chứ lúc đầu bà không đồng ý. T và gia đình bà hiện nay vẫn còn liên lạc bằng điện thoại. Nay L yêu cầu ly hôn với T bà có nguyện vọng cho L được ly hôn với T để cả hai được tự do vì theo bà biết tính tình của T có mâu thuẫn rất nhiều với L thì T mới tự ý bỏ đi, bà cam kết sẽ nhận tất cả các giấy tờ của Tòa án và thông báo ngay cho T biết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Về tình cảm: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng L; Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật: Bị đơn Bùi Văn T vắng mặt lần thứ hai nhưng không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên tiếp tục xét xử vụ án phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người làm chứng Giang Thị D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nhưng việc vắng mặt của bà D không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên tiếp tục xét xử vụ án phù hợp với quy định tại Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị Hồng L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Bùi Văn T. Đây là vụ án về ly hôn, quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh T cư trú tại ấp 2, xã 1, huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Bùi Văn T cưới nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 17/9/2014 phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy anh Bùi Văn T không đến Tòa án để tham gia các phiên họp, phiên hòa giải và không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án, điều này thể hiện việc anh T không còn tình cảm đối với chị L và không muốn đoàn tụ lại với chị L. Mặc khác, mâu thuẫn giữa chị L và anh T từ khi về sống chung với nhau đã có nhiều mâu thuẫn, tuy không đến mức phải ly hôn và tình cẩm anh chị vẫn còn, sau thời gian dài thì các mâu thuẫn giữa chị L và anh T ngày càng trầm trọng làm cho tình cảm của chị L đối với anh T không còn dẫn đến phải yêu cầu ly hôn, điều này được chứng minh bằng lời trình bày của người làm chứng và cũng là mẹ ruột của anh T là bà Giang Thị D (Bút lục số 31). Từ các phân tích trên đã có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng L.

2.2. Về con chung: Chị L và anh T chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

2.3. Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Hồng L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

2.4. Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Hồng L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

[3] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

4.1. Chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số BH/2018/0000879 ngày 05/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Chị Nguyễn Thị Hồng L không phải nộp thêm.

4.2. Anh Bùi Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 229, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng L. Cho chị Nguyễn Thị Hồng L ly hôn với anh Bùi Văn T.

2. Về con chung: Không có.

3. Về án phí:

3.1 Chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số BH/2018/0000879 ngày 05/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Chị Nguyễn Thị Hồng L không phải nộp thêm.

3.2 Anh Bùi Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dânsự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 15/10/2019 về ly hôn

Số hiệu:37/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Hồng - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về