Bản án 37/2018/HS-PT ngày 08/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 37/2018/HS-PT NGÀY 08/05/2018 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 16/2018/TLPT-HS ngày 22 tháng 02 năm 2018 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2018/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận LC, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thành V, sinh ngày 23 tháng 11 năm 1986 tại Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn TT, thị trấn YM, huyện YM, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Q và bà Đỗ Thị T; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/10/2017 đến ngày 27/10/2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10h ngày 29/9/2017, Nguyễn Thành V một mình điều khiển xe ô tô BKS: 89A-074.05 đi vào gửi xe trong bãi giữ xe bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng. Sau khi gửi xe, V quan sát thấy bệnh viện vắng vẻ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản ở trong cốp xe máy gửi trong bệnh viện. V lấy chiếc vòng sắt đường kính khoảng 03cm (là loại vòng dùng để móc chìa khóa) uốn thẳng một đầu tạo thành hình móc câu, một đầu vẫn uốn tròn mục đích sử dụng làm công cụ để mở cốp xe. V một mình đi xuống tầng hầm gửi xe cho nhân viên, quan sát thấy không có người trông coi, V đi đến đứng cạnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH mode BKS: 15H1-163.63 của chị Đinh Thị Thùy D, sinh năm 1990, trú quán: Số 22/31 BB, phường MK, quận HB, thành phố Hải Phòng. V sử dụng móc tự tạo chọc vào khe bên trái của nút bấm mở cốp (bên phải ổ khóa điện) thì mở được cốp xe. V nhấc yên xe lên thấy trong cốp xe có một chiếc ví nữ trong có 6.000.000 đồng. V lấy hết số tiền trong ví cất vào túi quần bên phải rồi trả chiếc ví vào trong cốp xe và đóng yên xe lại. Tiếp đó, V quay lại dãy xe máy ngay phía sau, cách khoảng 4m – 5m thấy có chiếc xe máy nhãn hiệu LEAD BKS 15B2-277.45 của chị Phạm Thị T1, sinh năm 1983, trú quán: Số 16/28 HL, quận HB, thành phố Hải Phòng. V lại sử dụng móc tự chế thực hiện hành vi mở cốp xe như trên, trong cốp có một chiếc ví nữ màu hồng nhạt trong có 3.000.000 đồng. V mở ví lấy hết số tiền trong ví cất vào túi quần bên phải, rồi trả chiếc ví vào trong cốp xe và đóng yên xe lại. Sau đó, cũng với thủ đoạn như trên, V còn mở cốp một số xe khác cùng dãy nhưng trong cốp không có tài sản gì. Sau đó, V lái xe bỏ đi.

Khoảng đầu tháng 10/2017, V đã sử dụng 1.500.000 đồng trong số tiền trộm cắp được để mua 02 chiếc điện thoại di động (1 chiếc Iphone 5S màu vàng, trắng giá 1.200.000 đồng và 1 chiếc LG màu trắng bị lỗi màn hình giá 300.000 đồng) của 1 nam giới không quen biết. Số tiền còn lại, V đã chi tiêu, sinh hoạt cá nhân hết. Ngày 19/10/2017, Nguyễn Thành V bị bắt theo Lệnh bắt khẩn cấp của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận LC.

Theo bị hại là chị Phạm Thị T1 và chị Đinh Thị Thùy D đều trình bày: Ngày 29/9/2017, hai chị có để xe tại khu vực hầm để xe của nhân viên bệnh viện. Hai chị có để ví tiền trong cốp xe, trong ví của chị T1 có 3.000.000 đồng, trong ví của chị D có 6.000.000 đồng. Sau đó, hai chị có phát hiện ra bị mất tiền nên đã đến Cơ quan công an trình báo.

Tại Bản án sơ thẩm số 06/2018/HS-ST ngày 16/01/2018, Tòa án nhân dân quận LC, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Điều 7; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 và xử phạt Nguyễn Thành V: 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án, bị cáo được trừ những ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 19/10/2017 đến ngày 27/10/2017)

Ngoài ra, còn quyết định xử lý vật chứng, tuyên nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo Bản án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/01/2018, bị cáo Nguyễn Thành V có đơn kháng cáo đều với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Việc kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết. Tại phiên tòa, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo. Việc thay đổi nội dung kháng cáo của bị cáo phù hợp với các quy định của pháp luật nên được xem xét giải quyết.

* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V 15 tháng tù là thỏa đáng, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới: Vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị H có đơn xin bảo lãnh cho chồng được cải tạo ngoài xã hội có xác nhận của chính quyền địa phương và vị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 (tương ứng với khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015). Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn đã được bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ cho những bị hại, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên có đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo: Giữ nguyên mức hình phạt và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 10h ngày 29/9/2017, Nguyễn Thành V điều khiển xe ô tô BKS 89A- 074.05 đi vào bãi gửi xe Bệnh viên Đa khoa Quốc tế Hải Phòng. Sau khi gửi xe, thấy bệnh viện vắng vẻ, lợi dụng sơ hở trong việc trông coi tài sản, V đã lén lút dùng một móc bằng sắt chọc vào khe bên trái của nút bấm mở cốp xe để trộm cắp tài sản trong cốp xe máy của những người gửi xe ở tầng hầm. Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi mở cốp xe như trên để chiếm đoạt tài sản. Lần thứ nhất, V mở cốp xe SH của chị Đinh Thị Thùy D chiếm đoạt được 6.000.000 đồng trong ví; lần thứ hai, V mở cốp xe LEAD của chị Phạm Thị T1 chiếm đoạt được 3.000.000 đồng; ngoài ra, V còn mở cốp nhiều xe khác cùng dãy nhưng không có tài sản. Tổng tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 9.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thành V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo:

[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V 15 tháng tù là thỏa đáng, không nặng.

[3] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo V cung cấp thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới, bố đẻ được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 (tương ứng với khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015). Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn đã được bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ cho những bị hại, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng được chính quyền địa phương xác nhận, có người bảo lãnh nên có đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 60 Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo V và chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

[4] Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa Bản án sơ thẩm: Giữ nguyên mức hình phạt và cho hưởng án treo

Căn cứ khoản 1 Điều 138; Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Điều 7; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt Nguyễn Thành V: 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thành V cho Ủy ban nhân dân thị trấn YM, huyện YM, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thành V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án số 06/2018/HS-ST ngày 16/01/2018 của Toà án nhân dân quận LC, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


121
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về