Bản án 37/2017/HS-ST ngày 14/09/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 37/2017/HSST NGÀY 14/09/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 14/9/2017, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn VG, huyện VG, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2017/HSST ngày 30/8/2017 Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2017/HSST-QĐ ngày 31/8/2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Mạnh H - Sinh năm: 1985

Nơi đăng ký HKTT: Đội 5, TC, huyện ĐB, tỉnh ĐB.

Chỗ ở: Thôn DT, xã VK, huyện VG, tỉnh HY.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Con ông: Nguyễn Huy T, Sinh năm: 1938; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Con bà: Phạm Thị L, Sinh năm: 1944; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2.

Vợ: Lò Thị H1, Sinh năm: 1987; Nghề nghiệp: Giáo viên (Đã ly hôn) Con: có 1 con, Sinh năm: 2006.

Tiền án; Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên.

Theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

*  Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan  :

Anh Đặng Tuấn A – Sinh năm: 1996

Trú tại: Đông Khúc – VK – VG – HY.

Anh Nguyễn Văn L1 – Sinh năm: 1977

Trú tại: Nhạc Miếu – Lạc Hồng – Văn Lâm – HY.

Anh Luyện Văn P – Sinh năm: 1988

Trú tại: Lạc Cầu – Giai Phạm – Yên Mỹ - HY.

Anh Lê Văn T1 – Sinh năm: 1976

Trú tại: Hạ Tân – VK – VG – HY.

Tại phiên tòa: Anh Tuấn A, anh L1, anh P, anh T1 đều vắng mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Mạnh H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Mạnh H quen biết và sống như vợ chồng với chị Chu Thị H1, SN 1975 tại thôn DT, xã VK, huyện VG, tỉnh HY từ tháng 11/2016. Do nghiện ma túy nên khoảng 07 giờ ngày 23/5/2017, H đi bộ từ nhà chị H1 ra Quốc lộ 5A đi xe buýt đến chân cầu Thanh Trì, TP. Hà Nội xuống xe sau đó đi xe khách đến địa phận huyện TT, tỉnh BN mua 01 gói ma túy của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 150.000đ rồi cất giấu gói ma túy vào túi quần bò phía trước sau đó đi bộ đến hiệu thuốc gần đó mua 01 chiếc xilanh và 01 ống novocain đến chỗ vắng gần đường Hà Nội – Bắc Giang lấy gói ma túy sử dụng 1/2 còn lại 1/2 lấy giấy bạc của vỏ bao thuốc lá gói lại cất vào túi quần bò phía trước và bắt xe buýt về nhà chị H1.

Khoảng 09 giờ cùng ngày, tại nhà Đặng Tuấn A ở thôn ĐK, xã VK, huyện VG có Tuấn A và Nguyễn Văn L1 và Luyện Văn P đều nghiện ma túy. Tại đây, L1 nhờ và đưa Tuấn A 100.000đ mua hộ ma túy, P đến hỏi Tuấn A có ma túy không cho một khói. Do cùng là người nghiện ma túy nên Tuấn A có số điện thoại của H, Tuấn A gọi điện nói với H “anh có không để cho em 100.000đ”, tức là: H có ma túy không bán cho Tuấn A 100.000đ, H đồng ý và hẹn Tuấn A đến khu vực gốc cây si thuộc địa phận thôn VB, xã VK, huyện VG. Khoảng hơn 09 giờ cùng ngày, H đang ở nhà chị H1 thì Tuấn A gọi điện thoại lại cho H nói bán cho 300.000đ ma túy, H đồng ý và cất gói ma túy ở túi quần bò phía trước bên phải rồi điều khiển xe máy Honda Wave, màu đỏ, biển số 29V3- 0117 đến đoạn đường bê tông thuộc địa phận thôn VB, xã VK, huyện VG lúc này vào hồi 10 giờ 05 phút thì bị lực lượng Công an huyện Văn Giang phát hiện bắt quả tang thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của H 01 gói giấy bạc hình chữ nhật, kích thước 2cm x 1cm, bên trong có chứa cục chất rắn màu trắng là Hêroin; thu giữ tại tay trái của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu đen số IMEL: 357078/06/350239/8; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 29V3-0117. Đồng thời Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại thôn DT, xã VK, huyện VG nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Cùng ngày 23/5/2017, Đặng Tuấn A giao nộp chiếc điện thoại Xphone, màu đen, số Model X6314. Đây là chiếc điện thoại Tuấn A đã dùng vào việc liên lạc với H để mua ma túy.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói nghi là Hêroin thu của H. Tại bản kết luận giám định số: 163/PC54 ngày 15/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục thu trên người H là Hêroin, có trọng lượng 0,104gam.

Tại bản cáo trạng số: 39/QĐ-VKS-HS, ngày 29/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự

Tại phiên toà hôm nay:

- Bị cáo Nguyễn Mạnh H đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng; Thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang tham gia phiên tòa có quan điểm xác định sự vắng mặt của người bị hại, những người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng tới việc xét xử  bị cáo và quyền lợi của họ, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 02 năm 06 tháng đến  03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang còn có quan điểm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Văn Giang nhận thấy như sau:

Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Văn Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng  hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đã có đầy đủ lời khai, thể hiện rõ quan điểm của mình và việc vắng mặt họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo cũng như đối với quyền lợi của họ. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Mạnh H tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 10 giờ 05 phút ngày 23/5/2017, Nguyễn Mạnh H có hành vi mang 01 gói Heroin có trọng lượng 0,104gam đến đường bê tông thuộc địa phận thôn VB, xã VK, huyện VG, mục đích để bán cho Đặng Tuấn A thì bị lực lượng Công an huyện Văn Giang bắt quả tang.

Bị cáo Nguyễn Mạnh H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý mua ma túy mang về sử dụng đồng thời bán lại cho người nghiện ma túy khác nhằm mục đích kiếm lời. Chất ma túy bị cáo mang bán là Heroin có trọng lượng 0,104g nên hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh và áp dụng điều luật như trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, gây mất trật tự trị an, góp phần gia tăng người nghiện hút ma túy trong xã hội và gia tăng nạn dịch HIV/AIDS, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình. Việc sử dụng chất ma túy sẽ gây ảnh hưởng xấu tới hệ thần kinh và sức khỏe của người sử dụng, nếu sử dụng với liều lượng cao có thể dẫn tới trụy tim và tử vong. Ngoài tác hại trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, tệ nạn ma túy còn gây suy yếu giống nòi. Bị cáo biết rõ ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng nhưng chỉ vì nghiện ma tuý, để thoả mãn cơn nghiện bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp sự nguy hiểm của ma túy đối với cơ thể con người, bất chấp pháp luật vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Hiện nay tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng gia tăng, thủ đoạn của loại tội phạm này ngày càng tinh vi, liều lĩnh và có diễn biến hết sức phức tạp. Trong khi Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các tổ chức xã hội khác cũng như mọi người dân đều gia sức tuyên truyền, phòng chống loại tội phạm này, thì lại có một bộ phận người chỉ vì ham chơi, đua đòi, đã bất chấp sự nỗ lực của các cơ quan chức năng, sự lên án của xã hội và tác hại của ma tuý để phạm tội.

Việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên toà lưu động hôm nay, không chỉ nhằm mục đích trừng trị, giáo dục giúp bị cáo sớm trở thành người có ích cho gia đình, xã hội mà còn nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân. Từ đó có thái độ tôn trọng pháp luật và phối hợp cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh, phòng chống và loại trừ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội. Việc quyết định hình phạt của HĐXX còn là lời cảnh báo răn đe đối với những người có ý định thực hiện tội phạm về ma tuý nói riêng và các loại tội phạm khác nói chung đã được Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam quy định.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS.

Bị cáo có bố mẹ là người có công với cách mạng, đều được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung cho mọi người.

Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo nghiện ma tuý, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với chiếc xe máy Honda Wave, màu đỏ biển số 29V3-0117 là của anh Lê Văn T1 cho chị H1 mượn. Chị H1, anh T1 không biết H sử dụng làm phương tiện đi bán ma túy nên không có căn cứ xử lý. Ngày 17/8/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang đã trả lại tài sản là chiếc xe cho chủ sở hữu là anh T1 là đúng pháp luật, anh T1 nhận lại tài sản và không đề nghị gì nên không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, bên trong có 0,094gam Heroin là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại Sam Sung, màu đen số IMEL: 357078/06/350239/8 là tài sản của bị cáo, sử dụng liên lạc với Đặng Tuấn A để bán ma túy, vì vậy cần tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với chiếc điện thoại Xphone, màu đen, số Model X6314 là của anh Đặng Tuấn A, do hành vi của Tuấn A không bị xử lý về hình sự nên sẽ trả lại Tuấn A để sử dụng.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu án phí theo quy định tại điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí năm 2015Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/5/2017.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định phía sau có 3 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên bên trong có 0,094gam Heroin.

- Tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại Sam Sung, màu đen số IMEL: 357078/06/350239/8 đã cũ.

- Trả lại anh Đặng Tuấn A 01 điện thoại Xphone, màu đen, số Model X6314 đã cũ

(Các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/9/2017 giữa Công an huyện Văn Giang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang)

Về án phí: Áp dụng điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.


134
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về