Bản án 36/2019/HNGĐ-ST ngày 23/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 36/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/10/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 149/2019/TLST-HNGĐ ngày 11/7/2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐXX-ST ngày 10/9/2019 giữa các đương sự

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D - Sinh năm 1990. (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn CN, xã NK, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Phạm Đức Q - Sinh năm 1990. (Vắng mặt lần thứ hai)

Địa chỉ: Thôn CN, xã NK, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08/7/2019, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Phạm Thị D trình bày: Chị và anh Phạm Đức Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 21/9/2010 tại UBND xã NK, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Q không tu trí làm ăn, không quan tâm đến vợ con và gia đình, giữa năm 2012 mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, nên chị đã mang con về nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân với anh Q kể từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Đức Q theo quy định pháp luật.

Về con cái: Chị và anh Phạm Đức Q có 01 con chung là Phạm Đức Đ - Sinh ngày 28/11/2010, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, chị là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phạm Đức Đ, vợ chồng ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Phạm Đức Đ cho chị chăm sóc nuôi dưỡng và chị tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phạm Đức Q có mặt theo địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện và đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Phạm Đức Q không trình bày ý kiến về việc chị Phạm Thị D yêu cầu ly hôn, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, cũng không tham gia phiên tòa. Tòa án xét thấy việc anh Q vắng mặt thuộc trường hợp bị đơn từ chối khai báo, nên tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn thực hiện việc tuân theo pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật, việc bị đơn vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và tại phiên tòa là bị đơn tự bỏ đi quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Phạm Thị D được ly hôn anh Phạm Đức Q và giao cháu Phạm Đức Đ cho chị D nuôi dưỡng chăm sóc, chấp nhận sự tự nguyện của chị D về việc không yêu cầu anh Phạm Đức Q cấp dưỡng nuôi con chung và buộc chị Phạm Thị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về hôn nhân: Căn cứ lời trình bày chị Phạm Thị D và giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Phạm Đức Q và chị Phạm Thị D, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh Q là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét nguyện vọng ly hôn của chị Phạm Thị D thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Đức Q không trình bày ý kiến về việc chị D xin ly hôn, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa, điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị D.

[2]. Về con chung: Căn cứ lời trình bày của chị Phạm Thị D và giấy khai sinh của cháu Đỉnh đủ cơ sở xác định chị D và anh Quyết có 01 con chung là Phạm Đức Đ - Sinh ngày 28/11/2010. Xét đề nghị xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị D thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Q không trình bày ý kiến về việc giao nuôi con, nên không có căn cứ giao con cho anh Q, đề nghị của chị D phù hợp với nguyện vọng của cháu Đ, nên chấp nhận đề nghị của chị D.

[3]. Về tài sản: Chị Phạm Thị D không đề nghị Toà án giải quyết và anh Phạm Đức Q cũng không có ý kiến về phần tài sản, nên về phần tài sản Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về trình tự thủ tục giải quyết vắng mặt anh Phạm Đức Q Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong đơn khởi kiện chị Phạm Thị D ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện là anh Phạm Đức Q và anh Q đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, việc anh Phạm Đức Q vắng mặt không tham gia phiên họp, phiên hòa giải và không tham gia phiên tòa là thuộc trường hợp bị đơn từ chối khai báo, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử xét thấy: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Chị Phạm Thị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị D.

* Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D được ly hôn anh Phạm Đức Qt.

* Về con chung: Giao cháu Phạm Đức Đ - Sinh ngày 28/11/2010 cho chị Phạm Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị D về việc không yêu cầu anh Phạm Đức Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phạm Đức Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, ngăn cấm.

* Về án phí: Chị Phạm Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2018/0006684 ngày 11/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc.

Chấp nhận chị Phạm Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

 * Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị D đươc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Đức Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


31
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về