Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về hôn nhân và gia đình, xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 36/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2017 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, XIN LY HÔN

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2016/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 10 năm 2016 về việc: “Hôn nhân và gia đình-xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2017/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị H, sinh năm 1990 (có mặt);

Địa chỉ: Số 55, ấp L, xã B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh C, sinh năm 1987 (vắng mặt),

Cùng địa chỉ: ấp A II, xã A, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị H  trình bày: Chị và anh C chung sống với nhau vào ngày 18 tháng 8 năm 2010, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 8 năm 2010, tại UBND xã B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Trước khi cưới vợ chồng có tìm hiểu nhau khoảng năm tháng mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Quá trình chung sống lúc đầu hạnh phúc đến ngày 23 tháng 12 năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất hòa quan điểm, thường xuyên xảy ra lời qua tiếng lại rồi cự cãi nhau, anh C bỏ nhà ra đi không rõ lý do gì, từ đó vợ chồng ly thân cho đến nay. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản của vợ chồng và quyền, nghĩa vụ về tài sản: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh C là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh C với tư cách là bị đơn, tại phiên tòa hôm nay anh C  vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ”. Xét thấy, anh C đã được cấp, tống đạt, niêm yết, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ theo khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh C vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định của pháp luật;

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C là hợp pháp. Bởi vì anh, chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào năm 2010  theo quy định tại Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi, bổ sung 2010 và Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 về điều khoản chuyển tiếp, nghĩ nên chấp nhận để xem xét giải quyết;

- Thấy rằng, giữa anh C và chị H là vợ chồng có thời gian dài chung sống với nhau. Đây là cơ sở để đảm bảo hạnh phúc gia đình bền vững. Tuy nhiên, trong cuộc sống thường nhật của anh, chị hay xảy ra bất đồng quan điểm mà nguyên nhân là do tính tình về sau này không còn phù hợp. Theo lời trình bày của chị H thì kể từ năm 2010 trở đi anh C bỏ nhà ra đi không biết ở đâu, làm gì, không còn quan tâm đến gia đình và vợ chồng ly thân đến nay, không ai tới lui thăm nôm, chăm sóc nhau nữa, bỏ mặt cho nhau ai muốn làm gì thì làm, càng ngày tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị xác định không thể tiếp tục sống chung với anh C được nữa nên yêu cầu được ly hôn,

- Về phần anh C, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thực hiện đầy đủ các bước như cấp, tống đạt, thông báo và niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh C cố tình tránh né, không hợp tác để giải quyết vụ việc. Theo chính quyền địa phương nơi anh C cư trú xác nhận đã từ lâu anh C bỏ địa phương đi đâu, làm gì không rõ. Điều này chứng tỏ rằng anh C không còn quan tâm đến gia đình vợ con, nhất là tình cảm vợ chồng. Vì vậy, nếu xử bác yêu cầu của chị H sẽ gây ra thiếu tính công bằng đối với giới nữ, đồng thời cho thấy theo lời trình bày và yêu cầu xin được ly hôn của chị H là chính đáng, nghĩ nên cần thiết cần được chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 89 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi, bổ sung năm 2010;

[3] Về con chung: Không có, Không yêu cầu Tòa án giải quyết;

[4] Về tài sản của vợ chồng và quyền, nghĩa vụ về tài sản: Chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

[5] Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011; khoản 8 Điều 27 của Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12, ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 12 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

[6] Báo cho các đương sự biết để thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật,

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 11, khoản 1 Điều 89 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi, bổ sung năm 2010; Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 về điều khoản chuyển tiếp; khoản 5 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

1. Về Quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh C;

2. Về quan hệ con cái: Miễn xét

3. Về tài sản của vợ chồng và quyền, nghĩa vụ về tài sản: Miễn xét;

4. Về án phí:

- Áp dụng Điều 131 của Bộ luật dân sự năn 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 khoản 8 Điều 27 của Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12, ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 12 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Xử buộc chị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được khấu trừ đi số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009715, ngày 12 tháng 10 năm 2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19 tháng 9 năm 2017, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về hôn nhân và gia đình, xin ly hôn

Số hiệu:36/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòn Đất - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về