Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 07/07/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn

  TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 36/2017/HNGĐ-ST NGÀY 07/07/2017 TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON VÀ CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 07 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2017/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Kim Thị Cẩm L, sinh năm 1985 (Co măt).

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bi đơn: Anh Sơn Thanh V, sinh năm 1990 (Văng măt không co ly do).

Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện C, tinh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10-01-2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chi Kim Thị Cẩm L trình bày:

Về hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Sơn Thanh V tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tinh Tra Vinh vào năm 2014. Anh chị sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuân do bất đồng quan điểm và cự cải nhau nên tháng 02 năm 2015 vợ chồng đã sống ly thân. Xét tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh Sơn Thanh V.

Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung tên Sơn Thị Cẩm T, sinh ngày 15/12/2014 hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu được nuôi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện chị yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay chị L yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện chị yêu cầu chia đôi 6.000.000 đồng và 03 chỉ vàng 24k anh V đang quản lý. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị L rút toàn bộ yêu cầu trên, không yêu cầu giải quyết mà để vợ chồng tự thỏa thuận chia.

Vê nơ chung: Không có, không yêu câu giai quyêt.

Phía bi đơn anh Sơn Thanh V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chấp hành đúng quy định theo điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định theo điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã được Tòa án triệu tâp xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xet xử chấp nhận cho chị Kim Thị Cẩm L được ly hôn với anh Sơn Thanh V; về con chung: Giao chau Sơn Thị Cẩm T cho chị L tiếp tục nuôi và cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh V phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; về tài sản chung: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị L rút yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, đề nghị Hôi đông xet xư căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị L, chị L không phải chiu án phí phần rút toàn bộ yêu chia tài sản chung của vợ chồng; vê nơ chung: Không co, không xem xet.

Chị L và anh V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Phần kiến nghị: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang nhận định:

 [2] Về tố tụng: Anh Sơn Thanh V được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh V theo quy định tại khoản 2 Điều 227 cua Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [3] Về quan hê hôn nhân: Hôn nhân của chị Kim Thị Cẩm L và anh Sơn Thanh V là hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không còn tình cảm và thường cự cải lẫn nhau. Từ tháng 02 năm 2015, hai bên đã sống ly thân đến nay, anh V cũng không tới lui thăm con, hai bên đều không qua lại và không có thiện chí để hàn gắn. Chi Cẩm L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu câu xin ly hôn. Do đó căn cứ Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chi Cẩm L.

 [4] Về quyên nuôi con: Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Sơn Thị Cẩm T do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu vẫn phát triển bình thường, ổn định về vật chất, tinh thần, nên giao cháu T cho chi Cẩm L nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình.

 [5] Vê câp dương nuôi con: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là nghĩa vụ của cha và mẹ đối với con nên cần xem xét vào thu nhập, khả năng thực tế và nhu cầu thiết yếu của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng. Xét hiện anh V không có thu nhập và việc làm không ổn định. Căn cứ vào mức lương cơ sở tại địa phương Hội đồng xét xử xem xét buộc anh V phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 650.000 đồng là phù hợp với Điều 107, 110, 116 của Luật hôn nhân và gia đình.

 [6] Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện đề ngày 10-01-2017 chị L có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nhưng trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay chị L rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, lý do để vợ chồng tự thỏa thuận. Xét việc rút yêu cầu này của chị L là hoàn toan tự nguyện, căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 cua Bộ luật tố tụng dân sư Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của chị L về việc chia tài sản chung của vợ chồng; nếu sau này chị L khởi kiện lại và thời hiệu vẫn còn thì sẽ giải quyết bằng

vụ án khác.

 [7] Về nợ chung: Đương sư không khởi kiện, không tranh chấp nên không xem xét.

 [8] Về án phí: Chi Kim Thị Cẩm L và anh Sơn Thanh V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào cac Điều 28, 35, 147, 217, 227, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cư vao Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giam, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hê hôn nhân: Cho chi Kim Thị Cẩm L được ly hôn với anh Sơn Thanh V.

2. Về quyên nuôi con: Chị Kim Thị Cẩm L được trực tiếp nuôi con chung tên Sơn Thị Cẩm T, sinh ngày 15/12/2014.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

3. Vê câp dương nuôi con: Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 650.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

4. Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử toàn bộ yêu cầu của chị L về chia tài sản chung của vợ chồng, sau này chị L khởi kiện lại và vẫn còn thời hiệu thì sẽ giải quyết bằng vu án khác. Chị L không phải chiu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử. xét.

5. Về nợ chung: Đương sư không khởi kiện, không tranh chấp nên không xem

6. Về án phí: Chi Kim Thị Cẩm L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chi Cẩm L đã nộp theo biên lai số 0007094 ngày 10 tháng 02 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang. Hoàn trả chị Cẩm L 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiên tam ưng an phi dân sư sơ thâm co gia ngach theo biên lai số 0007093 ngày 10 tháng 02 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang. Anh Sơn Thanh V phải chiu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hơp lệ.

 “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 07/07/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn

Số hiệu:36/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cầu Ngang - Trà Vinh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về