Bản án 35/2017/HSST ngày 01/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 35/2017/HSST NGÀY 01/12/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 12 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2017/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo: Họ và tên: Lý Văn Đ - sinh ngày 01/01/1995; tên gọi khác: Không; HKTT: ấp K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Không ổn định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Lý Văn C và bà Huỳnh Thị P; tiền án: 01 lần. Ngày 18/7/2014 Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2016, tiền sự: Không; bị khởi tố ngày 10/7/2017, bị tạm giữ ngày 01/7/2017, chuyển tạm giam từ ngày 10/7/2017 (có mặt).

Người bị hại: Anh Đỗ Văn Tr, sinh năm: 1980 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Trường A, sinh năm: 2001 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của Anh Lê Trường A:

1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1979 (mẹ ruột của Lê Trường A) (vắng mặt).

2. Ông Lê Trường G (cha ruột của Lê Trường A) (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lý Văn Đ bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 08.6.2017, Lý Văn Đ đi từ xã Đ đến nhà của Lê Trường A ở ấp Đ, xã T rủ đi thành phố Hồ Chí Minh để trộm cắp xe thì được A  đồng ý. Sau đó Đ và A đi về hướng huyện N. Khoảng 01 giờ ngày 09/6/2017 Đ và A đi đến nhà Anh Đỗ Văn Tr ở ấp T, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau thì Đ vào nhà phát hiện có 01 xe Wave alpha biển kiểm soát 69L1-034.94 đậu trong nhà nên Đ đi ra kêu A canh đường, còn Đ vào lấy xe. Khoảng một giờ sau Đ dắt xe 69L1-034.94 ra và bứt dây max nổ máy, điều khiển chở A đi về hướng thành phố C. Đến trưa ngày 09/6/2017 khi đến trước trụ sở UBND thị xã N, tỉnh Hậu Giang thì Đ phát hiện trong sân có 01 xe Airblade màu đen, bạc biển kiểm soát 95F1 – 080.35 của chị Bùi Thúy Ng nên kêu A đậu xe bên ngoài canh đường còn Đ vào mở cổ xe nổ máy chạy đi về hướng thành phố C. Khi chạy đến thành phố C thì Đ và A lạc nhau nên A chạy xe vào bến xe thành phố C thì bị bảo vệ bến xe nghi vấn nên báo Công an phường H, quận N kiểm tra đối với A. Qua làm việc A khai nhận đã cùng Đ thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thị trấn R, huyện N. Sau đó Công an phường H thông tin với Công an huyện N nội dung vụ việc. Đối với anh Tr đến sáng ngày 09/6/2017 phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an thị trấn R, huyện N trình báo.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐ ngày 30/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ngọc Hiển kết luận 01 xe máy hiệu Wave alpha màu đỏ - đen – bạc biển kiểm soát 69L1 – 034.94 có trị giá 13.200.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 2596/C54B ngày 29/8/2017 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận tại thời điểm giám định (tháng 8 năm 2017) Lê Trường A có độ tuổi từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm. Trên cơ sở đó ngày 13/9/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện N quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can Lê Trường A do bị can A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra trong quá trình điều tra còn chứng minh được Lý Văn Đ đã thực hiện chiếm đoạt 01 xe máy ở thành phố C, tỉnh Cà Mau; cùng với đồng bọn thực hiện hành vi chiếm đoạt 03 xe máy trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hiện nay Cơ quan điều tra Công an thị xã N, tỉnh Hậu Giang, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cà Mau đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lý Văn Đ để điều tra xử lý về tội Trộm cắp tài sản.

Theo bản án số 201/2017/HSST ngày 23/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau xử phạt bị cáo 02 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản.

Tại phiên tòa: Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng số 37/KSĐT-KT ngày 16/10/2017 và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điều 138 khoản 1; Điều 46 khoản 1 điểm  p; Điều 48 khoản 1 điểm g, n; Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Lý Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, theo Bản án số: 201/2017/HSST ngày 23/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau xử phạt bị cáo 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi và trả lại người bị hại nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu tím, quai kẹp.

Đối với bị cáo đã nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển đã truy tố và không ý kiến đối với đề nghị của Kiểm sát viên.

Đối với người bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự; về trách nhiệm hình sự người bị hại yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Khoảng 01 giờ ngày 09/6/2017 bị cáo Lý Văn Đ đã rủ Lê Trường A, sinh năm 2001 để thực hiện hành vi lén lút vào nhà chiếm đoạt 01 xe Wave alpha biển kiểm soát 69L1 – 034.94 của anh Đỗ Văn Tr trú tại ấp T, thị trấn R, huyện N với trị giá 13.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lý Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của anh Đỗ Văn Tr được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Lý Văn Đ biết rõ tài sản của người khác quản lý không ai có quyền chiếm đoạt một cách trái pháp luật nhưng với bản tính tham lam, không biết tạo ra đồng tiền bằng chính sức lao động của mình nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người quản lý tài sản và bị cáo lén lút chiếm đoạt một cách trái pháp luật. Với hành vi nêu trên, bị cáo Lý Văn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do mình gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo Lý Văn Đ đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển truy tố về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Để pháp luật được nghiêm minh thì hành vi của bị cáo được đưa ra xét xử trước phiên tòa là cần thiết và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định giúp giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời ngăn ngừa tội phạm tại địa phương.

Xét bị cáo Lý Văn Đ đã có một tiền án nhưng đã được xóa án tích nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm, tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải đây là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 và điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp. Bởi lẽ, bị cáo Đ có rủ Lê Trường A để cùng bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và A không bị khởi tố nên không áp dụng tình tiết tăng nặng “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” đối với bị cáo Lý Văn Đ. Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là phù hợp nên được chấp nhận và Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Gồm  01 xe máy hiệu Wave alpha màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát số 69L1 – 034.94; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe Wave alpha 69L1 – 034.94 tên Đỗ Văn Tr; 01 giấy phép lái xe tên Đỗ Văn Tr; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Đỗ Văn Tr; 01 bảo hiểm khám bệnh tên Đỗ Văn Tr; 01 bảo hiểm khám bệnh tên Trần Thị X đã được trả lại cho người bị hại nên không đặt ra xem xét.

Đối với 01 đôi dép nhựa màu tím, quai kẹp, trên quai có dòng chữ monobo không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2017 giữa Công an huyện Ngọc Hiển và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển).

Đối với Lê Trường A, sinh năm 2001 có hành cùng bị cáo Lý Văn Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Đỗ Văn Tr nhưng do Lê Trường A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Hiển quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can Lê Trường A là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu. Bởi lẽ trên Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lý Văn Đ, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 45, Điều 51 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên xử: Bị cáo Lý Văn Đ 02 (hai) năm tù. Tại bản án số 201/2017/HSST ngày 23/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau xử phạt bị cáo 02 (hai) năm về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt hai bản án bị cáo phải chấp hành là  04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/7/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu tím, quai kẹp trên quai có dòng chữ monobo.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2017 giữa Công an huyện Ngọc Hiển và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển).

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lý Văn Đ phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


114
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 35/2017/HSST ngày 01/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

    Số hiệu:35/2017/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:01/12/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về