Bản án 35/2017/HSPT ngày 19/01/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 35/2017/HSPT NGÀY 19/01/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 01 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1234/2016/HSPT ngày 27/12/2016 đối với bị cáo Vương Chí C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 119/2016/HSST ngày 15/11/2016 của Tòa án nhân dân thị xã S, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo:

VƯƠNG CHÍ C, sinh năm 1987. ĐKHKTT: thôn N, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 6/12; con ông Vương Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc S1 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 27/7/2016 đến ngày 02/8/2016; bị cáo tại ngoại; vắng mặt tại phiên toà.

Nhân thân:

- Bản án số 10/2009/HSST ngày 23/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam, còn phải chấp hành 04 tháng 15 ngày tù (đã được xóa án tích);

- Bản án số 85/2009/HSST ngày 13/5/2009 của Tòa án nhân dân thị xã T2, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 04 tháng 15 ngày tù theo quyết định của Bản án số 10/2009/HSST ngày 23/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội, hình phạt chung của hai bản án là 24 tháng 15 ngày tù (đã được xóa án tích).

Danh chỉ bản số 000000318 lập ngày 15/8/2016 tại Công an thị xã S, thành phố Hà Nội.

Người bị hại có kháng cáo: chị Đặng Thị N1, sinh năm 1976; trú quán: khu tập thể 916, thôn G, xã Đ, thị xã S, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã S thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 7 giờ ngày 05/4/2016, Vương Chí C đi xe máy Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, BKS:29V5- 272.95 lên khu vực ngã tư Lục Quân, xã Đ, thị xã S, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. C điều khiển xe rẽ đường đi vào Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Khi đến khu tập thể 916, thôn G, xã Đ, thị xã S, C nhìn thấy trước cửa hàng tạp hóa của chị Đặng Thị N1 có 01 con chó cảnh loại Sexy Italia, lông màu vàng đang bị xích ở gần cột điện phía trước cửa hàng. C quan sát xung quanh thấy không có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp con chó trên. C xuống xe dùng tay tháo xích ở cổ chó và ôm con chó lên xe mang về nhà cất giấu, tìm nơi tiêu thụ. Đến 8 giờ cùng ngày, chị N1 về nhà phát hiện mất chó. Chị N1 kiểm tra camera an ninh lắp đặt trước cửa hàng thì phát hiện 01 thanh niên đi xe máy màu đỏ - đen, BKS 29V5- 272.95 đã bắt con chó đi. Chị N1 làm đơn trình báo cơ quan Công an. Ngày 06/4/2016, tổ công tác Công an thị xã S đã đến nhà Vương Chí C thu giữ con chó trên. C sợ bị bắt nên đã bỏ trốn. Ngày 27/7/2016, Vương Chí C đã đến Công an thị xã S đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội củamình.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S đã định giá con chó trị giá 3.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả con chó cho chị Đặng Thị N1. Sau khi nhận lại tài sản, chị N1 không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 06/10/2016 của Viện kiểm sát nhân dân thị xãS, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Vương Chí C về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt C từ 09 đến 12 tháng tù.

Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2016/HSST ngày 15/11/2016 của Tòa án nhân dân thị xã S, thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố  bị  cáo Vương Chí C phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vương Chí C 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 27/7/2016 đến ngày 03/8/2016.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/11/2016, bị cáo Vương Chí C kháng cáo xin giảm hình phạt; ngày 18/11/2016, người bị hại Đặng Thị N1 có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, vắng mặt bị cáo và người bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định đơn kháng cáo của bị cáo và người bị hại trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức. Xét nội dung kháng cáo thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo đã có 02 tiền án đều đã được xóa, thể hiện có nhân thân xấu. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên mức hình phạt 12 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên,

XÉT THẤY

Bị cáo và người bị hại có kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm, tuy nhiên lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, ảnh chụp từ camera an ninh, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 7 giờ ngày 05/4/2016, Vương Chí C đi xe máy đến khu tập thể 916, thôn G, xã Đ, thị xã S, trộm cắp 01 con chó cảnh loại Sexy Italia trị giá 3.000.000 đồng của chị Đặng Thị N1. Sau đó, con chó đã được thu hồi trả người bị hại.

Hành vi của bị cáo Vương Chí C là lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, giá trị tài sản là 3.000.000 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Vương Chí C và kháng cáo của người bị hại thấy rằng bị cáo đã 02 lần bị kết án, Bản án số 10/2009/HSST ngày 23/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam, còn phải chấp hành 04 tháng 15 ngày tù; Bản án số 85/2009/HSST ngày 13/5/2009 của Tòa án nhân dân thị xã T2, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 04 tháng 15 ngày tù theo quyết định của Bản án số 10/2009/HSST ngày 23/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội, hình phạt chung của hai bản án là 24 tháng 15 ngày tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của hai bản án vào ngày 29/8/2010 (BL44); nộp án phí của Bản án số 10/2009/HSST ngày 23/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện T vào ngày 21/8/2009, nộp án phí của Bản án số 85/2009/HSST ngày 13/5/2009 của Tòa án nhân dân thị xã T2, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 28/9/2009 (BL52), đều đã đủ thời gian để xóa án tích của cả hai bản án. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 05/4/2016 nên lần phạm tội này không bị xác định là tái phạm, tái phạm nguy hiểm, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo có nhân thân xấu, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian; đồng thời đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bỏ trốn đã ra đầu thú để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 và khoản 2 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo trộm cắp con chó cảnh có giá trị 3.000.000 đồng, ngay ngày hôm sau đã thu hồi được con chó để trả lại người bị hại, người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên cần áp dụng thêm tình tiết “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, mặc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, đã được thu hồi trả người bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội cùng loại nên không đủ điều kiện để hưởng án treo. Song mức hình phạt 12 tháng tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên có thể chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại, giảm một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ tác dụng trừng trị và giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung, tạo điều kiện cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo và người bị hạikhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo được trừ thời gian đã tạm giữ vào hình phạt tù. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn vào ngày 02/8/2016 (BL19), Tòa án cấp sơ thẩm tính bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/7/2016 đến ngày 03/8/2016 là không chính xác, cần tính đến ngày 02/8/2016.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vương Chí C 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 27/7/2016 đến ngày02/8/2016.

2. Về án phí: áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Vương Chí C và người bị hại Đặng Thị N1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản  án  hình  sự  phúc  thẩm  có  hiệu  lực  pháp  luật  kể  từ  ngày  tuyên  án 19/01/2017.


114
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 35/2017/HSPT ngày 19/01/2017 về tội trộm cắp tài sản

    Số hiệu:35/2017/HSPT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:19/01/2017
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về