Bản án 346/2017/HSPT ngày 20/11/2017 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 346/2017/HSPT NGÀY 20/11/2017 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 

Ngày 20 tháng  11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 339/HSPT ngày 17/10/2017 đối với bị cáo Nguyễn Thế A, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST, ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thế A; sinh năm 1986, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã CB, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: đường NXN, phường TA, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Tá Đ, sinh năm 1959 và con bà: Trần Thị Đ, sinh năm 1952. Hiện cư trú tại thôn X, xã CB, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1984, có 01 con sinh năm 2016 (đã chết vào ngày 14/6/2017); Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam lần thứ nhất ngày 19/5/2017 đến ngày 14/6/2017 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị bắt tạm giam lần thứ hai từ ngày 06/9/2017, hiện đang bị tạm giam – có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bà D Kpơr, sinh năm 1985

Trú tại: Buôn EM, xã EB, huyện CK, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1952

Trú tại: Thôn X, xã CB, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 08/5/2015, Nguyễn Thế A cho bà D Kpơr vay số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng. Tuy nhiên, từ tháng 9/2015 đến tháng 11/2015 bà D Kpơr mới trả được số tiền 5.000.000 đồng cho Nguyễn Thế A, sau đó không trả nữa.

Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/01/2017, Nguyễn Thế A đi đến nhà bạn là ông Phạm Thế N rủ ông N đi đến Trường tiểu học NBC (nơi bà D Kpơr công tác), tìm gặp bà D Kpơr để đòi số tiền mà bà D Kpơr đang còn nợ Nguyễn Thế A, thì ông N đồng ý.

Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, ông N điều khiển xe mô tô biển số 93T4-7873 của ông N chở Nguyễn Thế A đi đến Trường tiểu học NBC thì gặp ông Trần Đình V, là Phó Hiệu trưởng của trường. Lúc này Nguyễn Thế A nói với ông V cho gặp bà D Kpơr thì được ông V cho biết bà D Kpơr không có mặt ở trường. Nghe vậy, Nguyễn Thế A đi về phía phòng hội trường thì nhìn thấy bà D Kpơr đang ngồi bên trong, Nguyễn Thế A đi đến yêu cầu bà D Kpơr trả hết số tiền còn nợ, thì bà D Kpơr nói không có tiền. Hai bên lời qua tiếng lại một lúc về việc vay mượn tiền thì Nguyễn Thế A dùng tay trái tát vào mặt bà D Kpơr hai cái, bà D Kpơr đứng dậy đi lùi về phía giữa phòng hội trường. Lúc này, bà Phạm Thị Trà G là giáo viên của trường đi đến phòng hội trường nghe thấy bà D Kpơr khóc nên đề nghị Nguyễn Thế A đi ra khỏi khu vực trường, Nguyễn Thế A nói: “Để Thế A nói chuyện với cô D Kpơr. Cùng lúc này Nguyễn Thế A nhìn thấy trên tay bà D Kpơr đang cầm chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung J5, vỏ bọc màu trắng gọi cho ai đó nên Nguyễn Thế A đi lại gần và giật chiếc điện thoại nhưng không được, hai bên giằng co qua lại một lúc thì Nguyễn Thế A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên để trừ vào số tiền bà D Kpơr còn nợ, vì vậy Nguyễn Thế A đã xô đẩy dồn ép bà D Kpơr về phía cuối phòng hội trường làm bà D Kpơr bị ngã xuống nền phòng, ngay lập tức Nguyễn Thế A nhoài người theo dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại trên tay bà D Kpơr rồi cùng với ông Phạm Thế N đi về.

Khoảng 01 tuần sau, Nguyễn Thế A đem bán chiếc điện thoại chiếm đoạt được của bà D Kpơr cho cửa hàng kinh doanh dịch vụ cầm đồ Z địa chỉ: Đường LD, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk được 1.700.000 đồng và sử dụng số tiền trên để chữa bệnh cho con gái.

Sau khi bị Nguyễn Thế A chiếm đoạt mất chiếc điện thoại, bà D Kpơr làm đơn tố cáo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Kuin trình bày nội dung vụ việc như trên, đồng thời tố cáo Nguyễn Thế A ngoài việc chiếm đoạt chiếc điện thoại, thì còn chiếm đoạt của bà D Kpơr số tiền 5.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐG ngày 12/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện CK kết luận: Giá trị của 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5, vỏ màu trắng, màn hình cảm ứng tại thời điểm ngày 05/01/2017 là 1.700.000 đồng.

Ngày 27/5/2017, bà D Kpơr làm đơn yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 106.700.000 đồng. Ngày 06/9/2017, bà D Kpơr có đơn thay đổi mức yêu cầu bồi thường với số tiền là 56.700.000 đồng, bao gồm: 50.000.000 đồng là tiền bồi thường danh dự, 1.700.000 đồng tiền bồi thường giá trị của chiếc điện thoại di động Samsung J5; số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo Thế A chiếm đoạt.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Kuin đã tạm giữ số tiền 3.700.000 đồng, trong đó: Bị cáo Nguyễn Thế A tự nguyện giao nộp số tiền 2.000.000 đồng và bà Trần Thị Đ (mẹ của bị cáo Nguyễn Thế A) tự nguyện giao nộp 1.700.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bà D Kpơr.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5, vỏ màu trắng của bà D Kpơr, sau khi chiếm đoạt bị cáo Nguyễn Thế A đã bán nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST, ngày12/9/2017 Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế A phạm tội “Cướp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A: 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/9/2017, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 19/5/2017 đến ngày 14/6/2017.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/9/2017, bị cáo Nguyễn Thế A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thế A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nêu.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đa phân tích, đanh gia tinh chât, mưc đô nguy hiêm cho xa hôi đôi vơi hanh vi pham tôi cua bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Thế A về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 02 năm 03 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo là thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải, tự nguyện bồi thường cho người bị hại, người bị hại cũng có lỗi. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điêm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên không châp nhân kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để khẳng định, vì mục đích cá nhân, nên vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 05/01/2017, tại Trường tiểu học NBC thuộc thôn S, xã H, huyện CK, bị cáo đã dùng vũ lực xô đẩy, dồn ép làm bà D Kpơr ngã xuống nền phòng hội trường để chiếm đoạt chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung J5 của bà D Kpơr có giá trị 1.700.000 đồng. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử bị cáo Nguyễn Thế A về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX phúc thẩm xét thấy mức hình phạt 02 năm 03 tháng tù đối với bị cáo là thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Bởi lẽ chỉ vì không đòi được nợ từ người bị hại, bị cáo đã dùng vũ lực làm cho bị hại không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản của người bị hại, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được xác định là 1.700.000 đồng. Trong quá trình xét xử cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra vụ án bị cáo và gia đình đã xuất trình đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn nhưng bản án sơ thẩm chưa đề cập. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai điều kiện gia đình bị cáo hiện khó khăn, công việc của bị cáo không ổn định, thu nhập thấp, bị cáo phải lo tiền điều trị cho con bị bệnh hiểm nghèo, mặc dù vậy con bị cáo cũng không cứu được, cháu đã tử vong. Đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bản án sơ thẩm chưa xem xét cần áp dụng đối với bị cáo. Vì vậy cần xem xét chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thế A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 02 (hai) năm tù về tội Cướp tài sản.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/9/2017, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 19/5/2017 đến ngày 14/6/2017.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thế A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


256
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 346/2017/HSPT ngày 20/11/2017 về tội cướp tài sản

      Số hiệu:346/2017/HSPT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:20/11/2017
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về