Bản án 34/2020/DSPT ngày 22/05/2020 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 34/2020/DSPT NGÀY 22/05/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2020/TLPT-DS ngày 06 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 156/2019/DSST ngày 25/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện L bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2020/QĐPT-DS ngày 07 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1998 Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện L, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1969 Địa chỉ: Số 99 ấp K, xã T, huyện L, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị N là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:

Ngày 26/7/2017 (âm lịch), bà N làm chủ hụi, hụi được mở định kỳ vào ngày 26 (âm lịch) hàng tháng, chưng hụi có 20 thành viên tham gia, mỗi phần trị giá 1.000.000 đồng, bà tham gia 01 phần đóng được 13 phần đến phần thứ 14 thì đến lượt hốt hụi với số tiền 12.500.000 đồng nhưng bà N chỉ giao được 3.900.000 đồng, còn nợ lại số tiền 8.600.000 đồng chưa giao cho bà.

Ngày 13/12/2017 (âm lịch), bà tiếp tục tham gia chưng hụi tiếp theo với 01 phần hụi, mỗi phần trị giá 2.000.000 đồng, đóng hụi, hốt hụi định kỳ vào ngày 13 (âm lịch) hàng tháng. Ở chưng hụi này có 16 hụi viên tham gia, bà đóng được 08 phần thì ngưng do khi đó bà N tuyên bố bể hụi. Tổng số tiền hụi bà được hốt là 16.000.000 đồng, trừ 1.000.000 đồng tiền huê hồng cho bà N, còn lại 15.000.000 đồng đến nay bà N vẫn chưa giao tiền cho bà.

Tổng số tiền của 02 chưng hụi bà N còn nợ bà là 23.600.000 đồng đến nay vẫn chưa trả.

Do bà N vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi nên bà yêu cầu bà N có trách nhiệm trả số tiền hụi còn nợ 23.600.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị N trình bày:

Bà thừa nhận bà D có tham gia 02 chưng hụi do bà làm chủ hụi, số tiền hụi chưng thứ nhất mở ngày 26/7/2017 (âm lịch) số tiền bà D được hốt là 8.600.000 đồng, chưng hụi thứ hai mở 13/12/2017 (âm lịch) số tiền bà D được hốt là 15.000.000 đồng, tổng số tiền 02 chưng hụi bà D được hốt là 23.600.000 đồng nhưng bà N chưa có tiền giao cho bà D. Do có hụi viên khác còn nợ tiền hụi của bà nên bà yêu cầu để khi nào bà lấy được tiền hụi sẽ giao cho bà D.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 156/2019/DSST ngày 25 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện L đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D.

Buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm trả cho bà D số tiền 23.600.000 đồng, không tính lãi.

Kể từ khi bà D có đơn yêu cầu thi hành án bà N chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên theo quy định của pháp luật.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 03/10/2019, bị đơn bà Phạm Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bà chỉ nợ nguyên đơn 16.790.000 đồng và đề nghị thu hồi nợ của các hụi viên khác rồi mới trả cho nguyên đơn số tiền này.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục: Bị đơn có đơn kháng cáo và đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ về mặt hình thức. Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Việc giao dịch hụi giữa nguyên đơn và bị đơn là tự nguyện và bình đẳng, không có sự lừa dối, ép buộc giữa các bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên xem là hợp pháp. Quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã vi phạm, không thực hiện đúng trách nhiệm chủ hụi làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Việc bị đơn ngưng hụi là lỗi của bị đơn. Cho nên cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả 23.600.000 đồng là có căn cứ. Việc bị đơn cho rằng do bể hụi nên chỉ trả một phần tiền hụi là 16.790.000 đồng là không có cơ sở.

Từ những phân tích trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các bên đương sự, của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn có tham gia chơi hụi do bị đơn làm chủ hụi. Nguyên đơn cho rằng bị đơn còn nợ số tiền hụi là 23.600.000 đồng nhưng không trả nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả số tiền trên. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện L xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử xong, bị đơn có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Việc kháng cáo của đương sự là trong hạn luật định và có nộp tạm ứng án phí nên kháng cáo đảm bảo về mặt hình thức.

Xét về nội dung kháng cáo: Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn có tham gia 02 chưng hụi do bị đơn làm chủ hụi. Cả 02 chưng hụi nguyên đơn tham gia đều là hụi có lãi vì có chung phương thức đóng hụi, khui hụi và hốt hụi đó là mỗi lần khui hụi vào ngày 26 và ngày 13 (âm lịch) hàng tháng, sau khi trừ đi một số tiền mà các hụi viên bỏ trên số tiền hụi gốc của chưng thứ nhất là 1.000.000 đồng và chưng thứ hai là 2.000.000 đồng, hụi viên nào bỏ cao nhất là người hốt hụi. Quá trình chơi hụi, bà D đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng tiền hụi nhưng đến khi bà hốt hụi thì bà N lại không giao đủ tiền hụi cho bà D, do đó bà N đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 15 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường nên bà N phải có nghĩa vụ trả tiền hụi cho bà D.

Xét thấy, đối với chưng hụi thứ nhất khui ngày 26/7/2018 (âm lịch), bà D đã đóng được 13 lần, đến lần thứ 14 thì bà D hốt hụi nên số tiền bà được hưởng là 12.500.000 đồng, nhưng bà N chỉ giao cho bà D số tiền là 3.900.000 đồng nên bà N còn nợ lại 8.600.000 đồng. Đối với chưng hụi thứ hai khui ngày 13/8/2018 (âm lịch), bà D đã đóng được 08 lần, số tiền bà hốt hụi là 15.000.000 đồng, nhưng bà N chưa giao cho bà D số tiền này.

Như vậy, tổng 02 chưng hụi bà N còn thiếu bà D là 23.600.000 đồng. Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm bà N cũng đã thừa nhận số tiền nợ hụi chưa giao cho bà D là 23.600.000 đồng. Nay, bà N kháng cáo cho rằng chỉ nợ bà D có 16.790.000 đồng, đồng thời đề nghị khi thu hồi nợ hụi của các thành viên khác rồi mới trả cho bà D nhưng không có chứng cứ gì để chứng minh nên kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ.

Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D.

Buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm trả cho bà D số tiền 23.600.000 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng), không tính lãi.

Kể từ khi bà D có đơn yêu cầu thi hành án, bà N chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị N phải chịu 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Mỹ D được nhận lại 365.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: AA/2016/003305 ngày 26 tháng 6 năm 2019 và 300.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: AA/2016/003401 ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, thành phố Cần Thơ.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền bà N đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 015279 ngày 07/10/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L. Công nhận bà N đã nộp xong Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

450
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2020/DSPT ngày 22/05/2020 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:34/2020/DSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về