Bản án 34/2019/HS-PT ngày 22/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 34/2019/HS-PT NGÀY 22/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN  

Ngày 22/5/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 35/2019/TLPT-HS ngày 17 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D do có kháng cáo của các bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2019/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Hứa Văn K, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1997 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn E và bà Hoàng Thị N; vợ: Lý Thị S, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự; chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04 tháng 12 năm 2018, hiện tại ngoại; có mặt.

2. Hoàng Văn K, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1996 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Chu Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự; chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04 tháng 12 năm 2018, hiện tại ngoại; có mặt.

3. Dương Văn D, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1988 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T và bà Lộc Thị V; vợ: Linh Thị H; con: Có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự; chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04 tháng 12 năm 2018, hiện tại ngoại; có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1974; cư trú tại: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/10/2018 Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn nhận được tố giác của ông Dương Văn T1, sinh năm 1974, trú tại: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về việc: Khoảng cuối tháng 9/2018 gia đình ông bị kẻ gian lấy trộm khoảng 90 kg nhựa thông tại khu rừng K thuộc thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, đồng thời đề nghị Công an huyện điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Tiếp nhận tố giác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành kiểm tra, xác minh và đã có đủ căn cứ xác định các đối tượng Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D đã có hành vi trộm 93 kg (chín mươi ba) nhựa thông nhà ông Dương Văn T1. Đến khoảng 04 giờ ngày 28/9/2018, Hứa Văn K đã bán nhựa thông cho bà Long Thị H với giá 37.000đ/kg được số tiền là 3.441.000 đồng, bà Long Thị H đã bán số nhựa thông đó cho người khác nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 40/KLĐGTSHS ngày 15/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lộc xác định 93 kg nhựa thông có trị giá 3.255.000 đồng.

Về phần bồi thường dân sự: Bị hại ông Dương Văn T1 đã nhận số tiền bồi thường khắc phục hậu quả là 3.200.000 đồng của các bị cáo và không yêu cầu khoản bồi thường thiệt hại nào khác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2019/HS-ST ngày 12/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Hứa Văn K 07 (bẩy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Dương Văn D 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về việc xử lý vật chứng; xác nhận việc bồi thường dân sự; quyết định về án phí; quyết định truy thu số tiền do phạm tội mà có của các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K; quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo; bị hại ông Dương Văn T1 có đơn kháng cáo cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D và bị hại ông Dương Văn T1 giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D về tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù giam là quá nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá các tình tiết, nhân thân và tính chất đồng phạm giản đơn trong vụ án. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo đã xuất trình thêm 01 đơn có xác nhận của Công an xã C, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xác nhận vào đơn xin hưởng án treo, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của bị hại vẫn tha thiết yêu cầu cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo được cải tạo tại địa phương, sửa chữa sai lầm của bản thân; đây là các tình tiết mới.

Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do đó theo quy định của Nghị quyết số 02/2018/HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành về án treo thì các bị cáo đủ điều kiện để được hưởng sự khoan hồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, bị hại ông Dương Văn T1, cụ thể: Giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng chuyển cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo, xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa sơ thẩm ông Dương Văn T1 là bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Hứa Văn K 07 (bảy) tháng tù giam; bị cáo Hoàng Văn K, Dương Văn D 06 (sáu) tháng tù giam là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đã xuất trình thêm các tài liệu, chứng cứ mới, gồm: 01 đơn xin hưởng án treo có xác nhận của Công an xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xác nhận bản thân các bị cáo sinh sống tại địa phương chưa vi phạm pháp luật, luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, bị hại kháng cáo vẫn đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, cần áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và bị hại. Nhận định này cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Việc sửa án sơ thẩm là do có tình tiết mới.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, [6] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hứa Văn K, Hoàng Văn K, Dương Văn D và bị hại Dương Văn T1, sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2019/HS-ST ngày 12/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Xử phạt bị cáo Hứa Văn K 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách là 1 (một) năm 02 (tháng) kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách là 1 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

- Xử phạt bị cáo Dương Văn D 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách là 1 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Các bị cáo Hoàng Văn K, Hứa Văn K, Dương Văn D và bị hại ông Dương Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/5/2019).


77
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về