Bản án 34/2017/HNGĐ-ST ngày 03/08/2017 về tranh chấp cấp dưỡng nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 34/2017/HNGĐ-ST NGÀY 03/08/2017 VỀ TRANH CHẤP CẤP DƯỠNG NUÔI CON 

Trong ngày 03 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị T, sinh năm 1994 (có mặt) Địa chỉ: Tổ 4, ấp 8, xã H, huyện Q, tỉnh Bình Phước.

2. Bị đơn: Anh Lương Văn N, sinh năm 1985 (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ 11, ấp 6, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn Tô Thị T trình bày:

Chị Tô Thị T và anh Lương Văn N chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2015, quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẩn nên chị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị  được ly hôn với anh N. Vụ án được Tòa án nhân dân huyện C giải quyết bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 44/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13/4/2017.

Tuy nhiên khi giải quyết vụ án thì về con chung chị T, anh N thống nhất chị T được nuôi con chung tên Lương Thị Thanh Y sinh ngày 07/12/2015 và không giải quyết về cấp dưỡng do chị T không yêu cầu. Nay chị T nhận thấy điều kiện kinh tế của chị khó khăn, bản thân chị là công nhân có thu nhập thấp mà chi phí cuộc sống lại cao nên chị rất chật vật trong việc chi phí sinh hoạt và nuôi con.

Vì vậy nay chị T yêu cầu Tòa án buộc anh Lương Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Lương Thị Thanh Y mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Đối với bị đơn anh Lương Văn N đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để anh N đến Tòa án làm việc, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải  và tham gia phiên tòa nhưng anh N vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể ghi nhận được ý kiến của anh N được .

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không cung cấp bổ sung thêm chứng cứ tài liệu nào khác.

- Bị đơn: Anh N vắng mặt đã được tòa án tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa số 81/2017/QĐST-HNGĐ ngày 27/7/2017 nhưng anh N vắng mặt không có lý do - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành phát biểu ý kiến.

+ Việc chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng

Về thành phần tham gia xét xử: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Tòa án lập biên bản nhận đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành thụ lý vụ án phân công thẩm phán giải quyết đúng quy định tại Điều 195, Điều 197 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành thụ lý được định tại khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS, việc Tòa án nhân dân huyện Chơn thành thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Thủ tục tiến hành phiên họp kiểm tra về giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đảm bảo quy định tại Điều 206 đến Điều 211 BLTTDS

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại Điều 203, Điều 233 BLTTDS

Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Nội dung và hình thức đảm bảo quy định tại Điều 220 BLTTDS

Về tống đạt văn bản tố tụng: Đúng quy định tại Điều 170, Điều 171, Điều 208 BLTTDS

Về thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát: Đảm bảo đúng quy định tại điều 220 BLTTDS

Về thu thập chứng cứ: Đúng nguyên tắc về việc xác minh, thu thập chứng cứ quy định tại điều 97, 98 BLTTDS

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử thực hiện đúng định pháp luật của BLTTDS về phiên tòa sơ thẩm

+ Việc tuân thủ pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 234 BLTTDS

+ Quan điểm về giải quyết vụ án:

Vụ án thuộc trường hợp kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21, Điều 97 BLTTDS

Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xét thấy: Chị Tô Thị T và anh Lương Văn N được Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành giải quyết bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 44/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13/4/2017. Về con chung chị Tô Thủy được nuôi con chung tên Lương Thị Thanh Y sinh ngày 07/12/2015 và không giải quyết về cấp dưỡng do chị T không yêu cầu. Nay chị T khởi kiện yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con  chung  mỗi  tháng  là 1.500.000  đồng,  căn  cứ  vào  văn  bản  số  01/BK-TA  ngày 09/6/2017 của Công ty TNHH Dệt vải Bukwang xác định được bị đơn anh N hiện nay là người có thu thập và nguyên đơn chị T cũng cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là đơn nhận tiền nuôi con của chính quyền địa phương hàng tháng chi Thủy phải chi phí nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng. Từ những chứng cứ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 82, Điều 110, Điều 116, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lương Thị Thanh Y mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn chị Tô Thị T, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con” theo quy định tại Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 do chị Tô Thị T khởi kiện yêu cầu anh Lương Văn N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lương Văn N hiện cư trú tại tổ 11, ấp 6, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Về thủ tục tố tụng: Do anh Lương Văn N mặc dù đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như giấy triệu tập làm việc, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ vào điều 228 BLTTDS Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị T và anh N chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2015 đến ngày 13/4/2017 thì chị T và anh N được Tòa án giải quyết ly hôn bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận giữa các đương sự số 44/2017/QĐST-HNGĐ. Quá trình giải quyết vụ án về con chung chị T có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lương Thị Thanh Y sinh ngày 07/12/2015, không giải quyết về cấp dưỡng do chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do đó chị T yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại điều 110 Luật hôn nhân và gia đình

Tuy nhiên, theo quy định tại điều 116 Luật hôn nhân gia đình thì  mức cấp dưỡng phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người phải cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng để xác định mức cấp dưỡng phù hợp với quy định pháp luật

Xét thấy, về thu nhập, khả năng thực tế của người phải cấp dưỡng thì căn cứ văn bản số 01/BK-TA ngày 09/6/2017 của Công ty TNHH Dệt vải Bukwang xác định được hiện nay anh N là công nhận dệt sợi của công ty với mức lương thực lãnh gần nhất như sau: tháng 02 năm 2017 là 8.322.000 đồng, tháng 3 năm 2017 là 9.866.000 đồng, tháng 4 năm 2017 là 9.034.000 đồng. Như vậy về thu nhập, khả năng thực tế của anh N là hoàn toàn đủ điều kiện để cấp dưỡng nuôi con

Về nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng thì chị T cung cấp cho Tòa án chứng cứ là đơn xin xác nhận tiền nuôi con của chính quyền địa phương thể hiện mức chi phí mỗi tháng của cháu Y bao gồm tiền gửi trẻ là 1.200.000 đồng, tiền mua sữa là 1.600.000 đồng, tiền ăn là 1.000.000 đồng, tiền bỉm và thuốc men là 500.000 đồng. Tổng chi phí mỗi tháng là cho cháu Y là 3.000.000 đồng.

Như vậy, định kỳ hàng tháng chị T phải chi phí nuôi con với tổng số tiền 3.000.000 đồng là sự thật. Tuy nhiên về nghĩa vụ nuôi dưỡng con sau ly hôn là nghĩa vụ của cả chị T và anh N do đó chị T phải chịu ½ của 3.000.000 đồng là 1.500.000 đồng. Anh N  phải chịu ½ của 3.000.000 đồng là 1.500.000 đồng.

Do vậy, sau khi xem xét các điều kiện về thu nhập, khả năng thực tế của anh N cùng với nhu cầu thiết yếu của cháu Y Hội đồng xét xử thấy cần thiết buộc anh Lương Văn N phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.500.000 đồng là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí cấp dưỡng: anh Lương Văn N phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 2 Điều 82, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử :

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Tô Thị T buộc anh Lương Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung tên tên Lương Thị Thanh Y sinh ngày 07/12/2015 mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về án phí cấp dưỡng: Anh Lương Văn N phải nộp là 300.000 đồng

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


204
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2017/HNGĐ-ST ngày 03/08/2017 về tranh chấp cấp dưỡng nuôi con

Số hiệu:34/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chơn Thành - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:03/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về