Bản án 341/2018/HNGĐ-ST ngày 28/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 341/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 28  tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 215/2018/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2018, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/10/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1990

ĐKHKTT: SN 15, tổ 4, phường H, thành phố T, tỉnh T.

Nơi ở hiện nay: thôn V, xã X, huyện Y, tỉnh T.

Có đơn xin xét xử vắngmặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung S, sinh năm 1986

ĐKHKTT: SN 15, tổ 4, phường H, thành phố T, tỉnh T.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có qua thời gian tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Anh chị đăng ký kết hôn ngày 25/6/2013 tại Ủy ban nhân dân phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống cùng nhà với bố mẹ đẻ của anh S tại tổ 4, phường H, thành phố T. Theo chị B, quá trình chung sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, chị đã cố gắng giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn mỗi ngày một lớn, đến nay vợ chồng không thể hoà thuận được. Khi mâu thuẫn đã được hai bên gia đình và bạn bè hoà giải nhưng không thể sống chung được nữa nên đã ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trung S để chị sớm ổn định cuộc sống.

Quá trình giải quyết anh Nguyễn Trung S không có mặt tại các buổi làm việc do Toà án tiến hành. Tại buổi làm việc ngày 24/10/2018 tại gia đình anh Nguyễn Trung S trình bầy: Anh và chị B tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 25/6/2013. Trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng không có mâu thuẫn gì cho đến đầu năm 2018, vợ chồng có xảy ra xô xát, cãi nhau nhưng sau đó vợ chồng hoà giải trở lại bình thường. Đến tháng 4/2018 chị B về nhà ngoại ở từ đó đến nay, khi về có điện báo cho anh. Thi thoảng chị B đưa con về chơi với ông bà nội rồi lại về nhà ngoại. Anh đã nhiều lần lên nhà ông bà ngoại đón vợ con về nhà anh nhưng chị B không về lấy lý do là phải trông nhà hộ nhà chị gái do chị gái vợ anh đi lao động nước ngoài. Việc chị B làm đơn ly hôn anh không biết cho đến khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Toà án gửi về gia đình. Từ hôm đó anh và chị B không gặp nhau, anh chỉ điện thoại hỏi thăm và nói chuyện với con. Anh không nhất trí ly hôn với chị B do anh thấy hai vợ chồng vẫn còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không có gì lớn, anh muốn con anh có đủ cả bố và mẹ.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S có 01 con chung là Nguyễn Yến C, sinh ngày 28/9/2015 đang do chị B nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết chị B xin được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh S đề nghị, nếu Toà án giải quyết cho anh và chị B ly hôn anh xin được nuôi con không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con. Anh S cho biết hiện nay anh đang làm nhân viên điện nước ở cửa hàng tư nhân, thu nhập bình quân là 6.000.000đ/tháng. Vì lý do sức khoẻ và công việc nên anh không thể có mặt tại Toà án được, anh đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt anh.

Về tài sản và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S cùng xác định không có tài sản chung, không có vay nợ chung trong quá trình chung sống nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Kết quả xác minh tại gia đình anh S thể hiện: Anh Nguyễn Trung S và chị Nguyễn Thị B kết hôn có đăng ký theo quy định pháp luật và về chung sống cùng nhà với ông Nguyễn Trung H và bà Bùi Thị L (là bố mẹ đẻ của anh S) tại tổ 4, phường H, thành phố T. Không thấy anh chị B – S có mâu thuẫn gì lớn chỉ là những xô xát nhỏ trong cuộc sống hàng ngày. Đến đầu năm 2017, chị B đòi đi làm nhưng công việc không ổn định vì chỗ làm đều ở xa lúc ở Bắc Ninh, lúc ở Hà Nội, lúc lại ở Tuyên Quang  nên gia đình khuyên chị B nên ở nhà vì con còn nhỏ nhưng chị B không đồng ý. Đến tháng 4/2018, chị B xin phép gia đình chồng đưa con về chơi nhà ông bà ngoại tại thôn V, xã X, huyện Y, tỉnh T một thời gian. Sau đó gia đình nhận được Thông báo, Giấy báo của Toà án mới biết việc chị B xin ly hôn anh S, ông bà H – L có khuyên bảo chị B đưa con về tiếp tục chung sống với anh S nhưng chị B không về, ông bà không muốn anh chị ly hôn khổ con nhỏ nên đề

nghị Toà án hoà giải cho anh chị.

* Kết quả xác minh tại gia đình của chị B thể hiện: Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể của anh chị B – S theo ông Nguyễn Công N (là bố đẻ của chị B) là do anh S chơi bờ quá trớn, cầm cố tài sản do có hiện tượng cờ bạc, nợ nần. Bắt đầu là xô xát, cãi vã sau đó anh S thường hay đánh chị B, gia đình hai bên bố mẹ đã khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến tháng 6/2018, chị B đưa con nhỏ về ở với ông bà, anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Thời gian ly thân, anh S và gia đình anh S không liên lạc hoặc thăm nom gì mẹ con chị B. Nay chị B xin ly hôn, ông N cho rằng khả năng đoàn tụ của anh chị là khó vì chị B nói với ông là sẽ kiên quyết ly hôn anh S.

* Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Chính quyền tổ 4, phường H, thành phố T nhận thấy cuộc sống chung của anh Nguyễn Trung S và chị Nguyễn Thị B không có vấn đề gì, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị chính quyền tổ không nắm được vì không yêu cầu hoà giải lần nào. Thời gian gần đây không thấy chị B sống tại gia đình nhà chồng nhưng không rõ chị B đi đâu, làm gì vì không báo tạm vắng.

Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt, chị giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Trung S và xin nuôi con chung Nguyễn Yến C, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, ngoài ra chị không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề nào khác. Anh Nguyễn Trung S vắng mặt không có lý do.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi tham gia tố tụng dân sự đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Riêng phía bị đơn chấp hành chưa nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S có đăng ký kết hôn ngày 25/6/2013 tại UBND phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn trong cuộc hàng ngày không cải thiện được, hiện đã sống ly thân. Chị B đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh S nhưng anh S không đồng ý. Căn cứ Điều 56 Luật HN&GĐ, đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B; Giao cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Yến C. Về tài sản và vay nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự xác định không có và không yêu cầu. Chị B phải chịu án phí; các đương sự  được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ (gửi bảo đảm qua đường bưu điện và tống đạt trực tiếp) các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Trung S vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S kết hôn trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật, như vậy quan hệ hôn nhân của chị B và anh S là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày không cải thiện được. Từ đầu năm 2018 anh chị sống ly thân, chị B có đơn yêu cầu ly hôn với anh S. Quá trình Toà án giải quyết, anh S không nhất trí ly hôn với chị B nhưng không có mặt tại các buổi làm việc và hoà giải do Toà án tiến hành.

Qua việc điều tra, xác minh thể cuộc sống chung của chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S có nhiều mâu thuẫn dẫn đến hiện đang sống ly thân. Như vậy, có cơ sở cho thấy hôn nhân của chị B và anh S đã lâm vào tình trạng thực sự trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ chung sống. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Trung S.

[3]  Về con chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S có 01 con chung hiện đang do chị B trực tiếp nuôi dưỡng, anh chị không thống nhất được mà cùng đề nghị được là người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và không yêu cầu người kia cấp dưỡng nuôi con. Xét con chung của anh chị còn nhỏ, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chưa thành niên nên giao con chung là Nguyễn Yến C, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do hiện tại chị B không yêu cầu về việc cấp dưỡng đối với anh S nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Nguyễn Trung S có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản và vay nợ chung: Các đương sự xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Nguyễn Trung S không phải nộp án phí.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 147, khoản 2 Điều 227, 228, 271, 273 của  Bộ luật tố tụng dân sự;  Các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

 Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Nguyễn Trung S.

2. Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Yến C, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Trung S không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện tại chị B không yêu cầu). Anh Nguyễn Trung S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/ 0000025 ngày 08/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang. Chị Nguyễn Thị B đã nộp đủ án phí của vụ án.

Anh Nguyễn Trung S không phải nộp án phí.

Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Trung S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 341/2018/HNGĐ-ST ngày 28/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:341/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tuyên Quang - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về