Bản án 338/2019/HS-ST ngày 31/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 338/2019/HS-ST NGÀY 31/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 336/2019/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 387/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Xuân T; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1992 tại Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: khối 6, phường T, thị xã L, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T (đã chết) và bà Đinh Thị Q; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không;

Tiền án:

- Ngày 30/5/2012, Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/11/2014.

- Ngày 29/9/2015, Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

- Ngày 03/02/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của bản án ngày 03/02/2016 buộc Phạm Xuân Tiến phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 6 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/9/2018 Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2019 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ, ngày 23/4/2019, Phạm Xuân T cùng bạn gái là Phan Thị L đi taxi từ thị xã L lên thành phố V để mua sắm quần áo. Trên đường đi, do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroin nên T đã nói lái xe taxi đến khu vực cây đa cháo lòng thuộc phường N, thành phố V, Nghệ An. Tại đây, T một mình xuống xe taxi và dùng điện thoại di động có số thuê bao 0981039856 gọi điện thoại cho một người đàn ông tên C (T không biết rõ tuổi, địa chỉ)) để hỏi mua 01 “chỉ” Heroin. C đồng ý bán và nói T đứng chờ. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông tên C đi xe máy SH đến gặp T. Gặp nhau, T đưa số tiền 2.500.000 đồng cho C, người này cầm tiền và đi khoảng 15 phút sau quay lại và chỉ cho T gói ma túy để ở dưới chân cột điện cách đó khoảng 1m. Tiến nhặt gói ma túy để vào trong túi quần đùi bên phải rồi quay lại xe taxi cùng bạn gái đi đến khu vực chợ V thuộc khối 23, phường S, V, Nghệ An. Lúc này, khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an phường N phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần bên phải T đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất cục bột màu trắng. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an thành phố Vinh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 23/4/2019 và tại Bản Kết luận giám định số 6772/KL-PC09 (MT) ngày 24/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Phạm Xuân T gửi tới giám định là ma túy (Heroin), có khối lượng 3,565gam”.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Xuân T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ gồm: - 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất cục bột màu trắng; Toàn bộ vật chứng đóng gói niêm phong có khối lượng 3,870 gam. Sau khi loại bỏ bao bì còn lại khối lượng 3,565 gam. Lấy 0,250 gam gửi giám định. Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định là 3,315 gam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philip bên trong có số thuê bao 0981039856 thu giữ của Phạm Xuân T Tại Bản cáo trạng số 359/CT-VKS-HS ngày 16/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Phạm Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Xuân T từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm tù; áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015; điểm b, c điều 47 BLHS xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà, bị cáo Phạm Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 23/4/2019 tại khu vực chợ V thuộc khối 23, phường S, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Phạm Xuân T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,565 gam ma túy (Heroin) mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo phạm tội khi có ba tiền án chưa được xóa án tích, vì vậy hành vi mà Phạm Xuân T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o Khoản 2 Điều 249 của BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết.

[2.2]. Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, vì vậy cần xét xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; gia đình có bố mẹ là người có công với cách mạng nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của viện kiểm sát là phù hợp.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông tên C là người đã bán ma túy cho bị cáo, do T không biết lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

[2.4]. Về xử lý vật chứng: Đối với 565 gam ma túy thu giữ của Phạm Xuân T, đã lấy 0,250 gam gửi giám định, vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định là 3,315 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philip bên trong có số thuê bao 0981039856 thu giữ của Phạm Xuân T là công cụ bị cáo liên lạc để mua ma túy cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.

[2.5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Phạm Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Xuân T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2019.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015, điều 47 BLHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Phạm Xuân Ti; Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philip bên trong có số thuê bao 0981039856 thu giữ của Phạm Xuân T. (Số vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 382 ngày 22/7/2019.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Phạm Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

88
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 338/2019/HS-ST ngày 31/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:338/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vinh - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về