Bản án 33/2018/HNGĐ-ST ngày 29/11/2018 về yêu cầu không công nhận là vợ chồng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 33/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2018 VỀ YÊU CẦU KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2018 về việc “Yêu cầu không công nhận là vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh Th- sinh năm 1989 

Nghề nghiệp: Dược sỹ

Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Lê Thị H- sinh năm 1993

Nghề nghiệp: Nữ hộ sinh

Nơi cư trú: Thôn V, xã V1, huyện Ch, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là anh Nguyễn Minh Th trình bày: Anh và chị Lê Thị H tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau từ năm 2015 nhưng không đăng ký kết hôn. Do đều công tác tại Bệnh viên Đa khoa tư nhân HV nên sau khi cưới, vợ chồng anh chung sống tại khu chung cư của Bệnh viện. Trong thời gian chung sống, giữa ah và chị H xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và đã ly thân. Do hai người không đăng ký kết hôn, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận anh và chị H là vợ chồng.

Bị đơn là chị Lê Thị H xác nhận chị và anh Nguyễn Minh Th không đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức cưới và chung sống với nhau từ năm 2015. Hai người xảy ra mâu thuẫn do anh Th ghen tuông, đánh chị nhiều lần. Không thể chịu đựng được nên chị đã nghỉ việc tại Bênh viện HV và về Hà Nội làm, ly thân với anh Th. Xét thấy tình cảm giữa hai bên không thể hàn gắn được nữa, việc anh Th đề nghị Tòa án không công nhận chị và anh Th là vợ chồng, chị cũng nhất trí.

- Về con chung: Anh Th và chị H xác nhận có hai con chung: Nguyễn Ngọc M - sinh ngày 16/11/2015, Nguyễn Minh T - sinh ngày 13/9/2017. Hiện nay cháu M đang ở với anh Th, cháu T đang ở với chị H.

Hai bên thỏa thuận: Sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân, anh Th tiếp tục nuôi cháu M, chị H nuôi cháu T, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

- Về tài sản chung: Hai bên thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về vay nợ chung: Anh Th và chị H xác nhận không vay nợ ai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Minh Th cư trú tại xã C, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ là nguyên đơn yêu cầu Tòa án không công nhận là vợ chồng với chị Lê Thị H cư trú tại xã V1, huyện Ch, Thành phố Hà Nội. Do chị H và anh Th đã có văn bản thỏa thuận chọn Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ giải quyết, cho nên Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Lê Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết, xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh Th và chị Lê Thị H chung sống với nhau từ năm 2015 nhưng cho đến nay không đăng ký kết hôn là vi pHm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình để tuyên bố không công nhận anh Nguyễn Minh Th và chị Lê Thị H là vợ chồng.

[3] Về con chung: Anh Th và chị H có 2 con chung. Hai bên đã thỏa thuận mỗi người nuôi một con, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, cần công nhận.

[4] Về tài sản chung: Do anh Th và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vay nợ chung: Không có, nên không phải giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh Th phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, các điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Xử: Tuyên bố không công nhận anh Nguyễn Minh Th và chị Lê Thị H là vợ chồng.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận sau: Anh Nguyễn Minh Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc M- sinh ngày 16/11/2015; chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh T- sinh ngày 13/9/2017. Anh Th và chị H không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hai người đều có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Do hai bên không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về vay nợ chung: Không có, nên không phải giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số AA/2017/0002947, ngày 09/11/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Anh Th đã nộp đủ án phí.

Trong thời Hn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời Hn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


36
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về