Bản án 33/2018/HNGĐ ngày 08/07/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 33/2018/HNGĐ NGÀY 08/07/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN

Ngày 08 tháng 02 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 581/2017/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị O, sinh năm 1984; đăng ký thường trú tại: Số 432 T, phường TNH, quận L C, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Bị đơn: Anh Lê Ngọc H, sinh nam 1979; đăng ký thường trú tại: Số 432 T, phường TNH, quận L C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, các lời khai của chị Phan Thị Ocó trong hồ sơ và tại phiên tòa thể hiện:

Chị Phan Thị O và anh Lê Ngọc H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2004, nhưng đến ngày 14/11/2007 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TNH, quận L C, thành phố Hải Phòng. Đến nay có một con chung.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2013 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H mải chơi, không quan tâm trách nhiệm với gia đình, vợ con. Từ đó kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng thường xảy ra cãi cọ, xô xát, cuộc sống luôn căng thẳng. Chị O nhiều lần phải tránh về nhà bố mẹ đẻ ở một thời gian rồi lại quay lại chung sống với anh H nhưng mâu thuẫn không những không giải quyết được mà còn trở nên trầm trọng hơn. Từ tháng 6/2017 đến nay chị O đã chuyển ra ngoài ở, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Ngọc H.

Về con chung: Chị O và anh H có một con chung tên là Lê Ngọc N, sinh ngày 16/3/2011. Nếu ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con đến khi con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Lê Ngọc H vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập anh H và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H nhưng anh H không có mặt tại Tòa án. Điều đó cho thấy anh H đã tự từ bỏ quyền cũng như không thực hiện nghĩa vụ của mình trước pháp luật, không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng với chị O.

Tại biên bản xác minh tại nơi cư trú và biên bản làm việc với đại diện gia đình anh Lê Ngọc H thể hiện: Cuộc sống chung giữa chị Ovà anh H đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng, bị đơn không chấp hành các quy định về pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Chị O và anh H kết hôn từ năm 2004 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TNH, quận L C, thành phố Hải Phòng vào năm 2007 nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị O được ly hôn anh H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị O và anh H có một con chung tên là Lê Ngọc N, sinh ngày 16/3/2011. Nếu ly hôn giao con chung cho chị O là mẹ trực tiếp nuôi con là phù hợp quy định tại Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị Okhông có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Chị Ophải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận xét:

[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện và biên bản xác minh tại nơi cư trú thể hiện: Anh Lê Ngọc H, sinh năm 1979; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số 432 T, phường TNH , quận L C, thành phố Hải Phòng. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa nguyên đơn là chị Phan Thị O và anh Lê Ngọc H thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa án nên không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Lê Ngọc H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai. Bởi vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Ngọc H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị O và anh Lê Ngọc H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TNH , quận L C, thành phố Hải Phòng vào năm 2007 nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống: Chị O và anh H nảy sinh mâu thuẫn do không hòa hợp về tính cách, lối sống, vợ chồng không tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn trầm trọng nên từ tháng 6/2017 đến nay hai bên đã sống ly thân, không quan tâm trách nhiệm đến nhau về mọi mặt. Mặt khác, qua xác minh tại gia đình, nơi cư trú của chị Ovà anh H cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã thực sự trầm trọng, quan hệ vợ chồng trên thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Bởi vậy, chị O yêu cầu được ly hôn anh H là phù hợp với thực tế, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Ovà anh H có một con chung tên là Lê Ngọc N, sinh ngày 16/3/2011. Hiện cháu Nđang sống với ông bà nội, nhưng do anh H hiện không có công việc ổn định, chính quyền địa phương xác nhận anh H nghiện ma túy, anh H không đến tòa án làm việc, đã tự từ bỏ quyền cũng như không thực hiện nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Hơn nữa cháu N là cháu gái rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy khi ly hôn cần giao con cho chị Otrực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung,  chị Okhông có yêu cầu nên HĐXX không xét.

[4] Về tài sản chung: Chị Phan Thị Okhông yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Chị Ophải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28; Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51; 56; 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chị Phan Thị Ođược ly hôn anh Lê Ngọc H.

Về con chung: Giao con chung của chị Phan Thị Ovà anh Lê Ngọc H tên là Lê Ngọc N, sinh ngày 16/3/2011 cho chị Otrực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do hai bên tự thỏa thuận.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Phan Thị Ophải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị Ođã nộp đủ số tiền án phí là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004747 ngày 13 tháng 10 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


82
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2018/HNGĐ ngày 08/07/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Số hiệu:33/2018/HNGĐ
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về