Bản án 323/2018/HNGĐ-ST ngày 07/12/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 323/2018/HNGĐ-ST NGÀY 07/12/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 07 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 772/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2018 về tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 536/2018/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1986.

- Bị đơn: Anh Phạm Hoàng D, sinh năm 1980.

Trú tại: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn từ chối tham gia tố tụng)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2007, chị và anh Phạm Hoàng D chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng hiện nay tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn lại được và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh D.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Phạm Khánh P, sinh ngày 30/7/2009. Hiện cháu do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi các cháu. Không yêu cầu anh D cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ: Chị xác định không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phạm Hoàng D: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng phía anh D từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu Phạm Khánh P, là con chung giữa chị Q và anh D. Cháu Phương có nguyện vọng được sống chung với chị Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phạm Hoàng D có nơi trú tại ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; về quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị Q có đơn xin xét xử vắng mặt.

Anh D từ chối tham gia tố tụng. Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số: 96, Quyển số: 01/2007, ngày 21/12/2007 của Uỷ ban nhân dân xã K, huyện T đã cấp cho chị Q và anh D nên quan hệ hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị Q xác định, hiện nay vợ chồng không còn sống chung và không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn. Quá trình tố tụng tại Tòa án, anh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh D từ chối nhận văn bản tố tụng và từ chối tham gia tố tụng. Như vậy, cho thấy anh D không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ và anh D đã từ bỏ quyền chứng minh, phản bác của mình. Tại Tòa án, chị Q xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh D, không còn muốn chung sống với anh D.

Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Q và anh D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Q yêu cầu ly hôn với anh D là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị Q yêu cầu được nuôi cháu Phạm Khánh P, sinh ngày 30/7/2009 và chị không có yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Xét, hiện tại con chung đang sống cùng chị Q, chị Q có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Cháu Phương có nguyện vọng sống chung với chị Q. Do vậy, yêu cầu được nuôi con của chị Q là có căn cứ chấp nhận quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tạm thời anh D không cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q xác định không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 235; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q về việc yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Hoàng D.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Phạm Hoàng D.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Khánh P, sinh ngày 30/7/2009 cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh D không cấp dưỡng nuôi con chung. Anh D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị Q không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q đã dự nộp trước 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008898 ngày 07/11/2018 được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 323/2018/HNGĐ-ST ngày 07/12/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:323/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về