Bản án 32/2019/HS-PT ngày 09/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 32/2019/HS-PT NGÀY 09/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2019/HS-PT ngày 30/01/2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn T có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 587/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1972.

Nơi ĐKHKTT: Khối 5, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Tr và bà Phan Thị L: có vợ: Trần Thị H có 2 con. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân ngày 21/5/2009 bị TAND T.P Vinh xử phạt 24 tháng tù về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy. Thi hành xong năm 2010. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2018 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Vụ án không có kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 9 giờ 30 ngày 20/6/2018 tại quán nước sát nhà thi đấu thể thao tỉnh thuộc khối 3, phường C, T.P V bị cáo Nguyễn Văn T bị tổ Công an phường Hồng Sơn bắt quả tang thu giữ trên tay 800.000đ và 1 gói ma túy trên mặt bàn mà T vừa thả ra. Tiến hành bắt giữ đưa bị cáo về trụ sở làm việc thì bị cáo khai nhận: Trước đó có người tên Tuấn ( không rõ lai lịch) điện thoại hỏi mua ma túy, thống nhất hàng, tiền, địa điểm giao nhận. Đến nơi hẹn thì T1 đưa cho T 800.000đ. T nói: Mới chỉ có gói 500.000đ. T chưa kịp đưa ma túy thì Công án phát hiện, tên T1 bỏ chạy thoát.

Tại Bản Kết luận giám định số 856/KL-PC54 (MT) ngày 25/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

- Mẫu cục chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T gửi tới giám định là ma túy (Hê rô in) có trọng lượng là 0,29g (Không phẩy hai mươi chín gam).

Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 587/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã Quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 điều 106, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 23 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2018.

Ngoài ra còn Bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 10/01/2019, bị cáo Nguyễn Văn T có Đơn kháng cáo với nội dung: Mức án sơ thẩm tuyên 24 tháng là quá cao, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ để sớm trở về với gia đình, xã hội.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo không xuất trình chứng cứ tài liệu gì thêm, thừa nhận hành vi phạm tội do nể nang đi tìm, mua hộ ma túy cho bạn nên phạm tội đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về hòa nhập cộng đồng, sống có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Về thủ tục: Kháng cáo hợp lệ nên đề nghị chấp nhận.

Về nội dung: Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ gì mới tuy nhiên bị cáo tàng trữ trọng lượng ít, bố bị cáo có công, bản thân bị cáo được tặng thưởng Giấy khen nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức 18 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trung được làm trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án theo đúng quy định nên kháng cáo hợp lệ. Về nội dung kháng cáo thuộc phạm vi kháng cáo theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, Bị cáo khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung phản ánh của Bản án sơ thẩm. Phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình Điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với vật chứng thu giữ của vụ án, biên bản phạm tội quả tang có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 20/6/2018 bị cáo Trung đang có hành vi tàng trữ 0,29g hê rô in thì bị bắt quả tang. Bị cáo khai đang bán cho Tuấn nhưng không bắt được Tuấn nên không có cơ sở xác định bị cáo bán ma túy.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ tái phép chất ma túy ” như quyết định của Bản án sơ thẩm là đúng người, đúng tội.

Ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội không những gây tác hại nghiêm trọng đến trật tự an ninh xã hội mà còn làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đình, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện đồng thời nguyên nhân lây lan nạn dịch HIV và các tệ nạn, tội phạm khác. Vì vậy cần trừng trị và cải tạo giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân của bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm xem xét , tại cấp phúc thẩm không có tình tiết gì mới tuy nhiên bị cáo tàng trữ với trọng lượng ít, do nể nang bạn bè nên phạm tội, bố bị cáo có công, bản thân bị cáo được tặng thưởng Giấy khen nên cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức 18 tháng tù như đại diện VKSND tỉnh Nghệ An tại phiên tòa đề nghị là phù hợp.

[4]. Về án phí Hình sự phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm .

[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét và có hiệu lực.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 điều 357 Bộ Luật Tố tụng Hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án sơ thẩm; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 23 NQ 326/2016 của UBTVQH 14.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 18 ( Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2018.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


93
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 32/2019/HS-PT ngày 09/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:32/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về