Bản án 321/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 321/2017/HSST NGÀY 29/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Vào ngày 29 tháng 09 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 324/2017/TLST-HS ngày 07 tháng 09 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2017/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 09 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Văn C, sinh năm 1995; HKTT: Xóm C, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình; Nơi cư trú: Khu L, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị H; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Bùi Thị N, sinh năm 1998 và 01 con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2017 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Bùi Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 25/5/2017, tại khu L, phường V, thành phố Bắc Ninh tổ công tác của Đồn Công an khu công nghiệp Quế Võ phát hiện và bắt quả tang Bùi Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ: thu tại lòng bàn tay trái của C01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng, tổ công tác đã niêm phong vật chứng và trưng cầu cơ quan chuyên môn giám định.

Tại bản kết luận giám định số 725/KLGĐ – PC54 ngày 25/05/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất bột màu trắng bên trong giấy bạc màu vàng có trọng lượng 0,2997 gam, loại ma tuý chất heroine.

Tại cơ quan điều tra Ckhai nhận về nguồn gốc số ma tuý là do mua của một người thanh niên không quen biết tại khu vực phòng khám Nhân Đức thuộc khu L, phường V, thành phố Bắc Ninh về để sử dụng cho bản thân.

Từ những tình tiết nêu trên, Cáo trạng số 221/CTr -VKS ngày 06/09/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Bùi Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Ckhai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như sau: khoảng 10 giờ ngày 25/5/2017 Cđiện thoại cho một người thanh niên không quen biết hỏi mua 01 gói heroin với giá 200.000đ. Người thanh niên đồng ý rồi hẹn gặp tại khu vực phòng khám Nhân Đức thuộc khu L, phường V, thành phố Bắc Ninh. Khi gặp ở chỗ hẹn, C đưa cho người thanh niên 200.000đ, người thanh niên cầm tiền và đưa lại cho C 01 gói giấy bạc màu vàng, C biết là ma tuý nên cầm ở tay trái. Người thanh niên có mượn điện thoại của C đi ra chỗ khác gọi điện cho ai đó C không rõ. Khi C đang đứng chờ để lấy điện thoại thì tổ công tác của Đồn Công an khu công nghiệp Quế Võ kiểm tra và bắt quả tang. Công an thu tại tay trái của C01 gói ma túy được bọc bằng giấy bạc màu vàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, kết luận Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt Bùi Văn C từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Căn cứ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 41 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ. Căn cứ vào kết luận giám định và các tài liệu trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ ngày 25/05/2017 tại khu L, phường V, thành phố Bắc Ninh, Bùi Văn C  có hành vi cất giữ trái phép 0,2997 gam heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đối với Bùi Văn C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất cũng như tinh thần của người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Người sử dụng ma túy có lối sống buông thả, thoái hóa nhân cách, làm suy kiệt giống nòi, còn dễ vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo hiểu rõ được tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân nhưng vẫn cố ý thực hiện do vậy cần xử lý kịp thời và nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về mức hình phạt, tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định mức hình phạt từ 2 năm đến 7 năm trong khi tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Mặc dù Bộ luật hình sự 2015 chưa có hiệu lực pháp luật nhưng căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội thì bị cáo được áp dụng mức hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của  bị cáo thì thấy: Bùi Văn C là đối tượng nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục Ctrở thành công dân có ích. Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích kiếm lời. Theo cung cấp của chính quyền địa phương thì bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số ma tuý còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ

Đối với người thanh niên đã bán ma tuý cho C, C không biết họ tên, tuổi, địa chỉ nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, lắp sim 0973143361 theo bị cáo khai đã cho người đàn ông bán ma tuý mượn bị cáo có sử dụng liên lạc để mua ma túy nhưng không thu hồi được.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội xử phạt Bùi Văn C 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/5/2017.

- Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định tại bản kết luận giám định số 725/KLGĐ – PC54 ngày 25/05/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.

3 Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự;Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


89
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về