Bản án 321/2017/HSST ngày 28/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 321/2017/HSST NGÀY 28/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 323/2017/HSST ngày 15-9-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2017/QĐ-HSST ngày 18-9-2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang L - sinh năm 1980;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 8A xóm C, đường P, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định;

Nơi cư trú: Số 55/124 (số 51C/124 cũ) đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định;

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Con ông: Nguyễn Quang N - đã chết; Con bà: Chu Thị H - sinh năm 1952; Vợ: Nguyễn Thị Thanh H - sinh năm 1980;Có 01 con sinh năm 1999; Tiền án:

 - Ngày 18-8-2008, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội Nguyễn Quang L phải thi hành là 03 năm tù;

- Ngày 21-6-2011 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;  (Hai lần kết án trên chưa được xóa án tích).

Tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 27-11-2000, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích);

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22-6-2017, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 28-6- 2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 21-6-2017, tổ công tác Công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực đường Trần Huy Liệu, thành phố Nam Định, phát hiện Nguyễn Quang L đang đi xe đạp một mình có biểu hiện nghi vấn. Khi L đi đến trước cửa số nhà 22/124 đường Trần Huy Liệu, phường Trường Thi, thành phố Nam Định, tổ công tác yêu cầu L dừng xe để kiểm tra thì L đã thả từ tay trái xuống đất 04 gói giấy bạc màu vàng. Tổ công tác đã thu giữ, kiểm tra bên trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (L khai là 04 gói Heroine); ngoài ra còn thu giữ của L 01 chiếc xe đạp mini màu xanh và một điện thoại di động có chữ Iphone (đã cũ). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng vàđưa L cùng người làm chứng về trụ sở  Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 540/GĐKTHS ngày 23-6- 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 04 gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Quang L đều là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có tổng trọng lượng (khối lượng) là 0,442 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quang L khai: Khoảng 18 giờ ngày 21-6-2017, L đi xe đạp một mình từ nhà đến khu vực 3 tầng đường Phan Bội Châu, phường Trần Đăng Ninh, thành phố Nam Định mục đích mua ma túy về sử dụng, đến nơi L mua của một nam thanh niên (không rõ lai lịch) đang đứng ven đường 04 gói ma túy với giá 400.000đồng. Sau khi mua được ma túy, L cầm trên tay trái rồi đi xe đạp về, khi đi đến trước cửa số nhà 22/124 đường Trần Huy Liệu, phường Trường Thi, thành phố Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 335/QĐ-KSĐT ngày 14-9-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Quang L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Quang L khai: Ngày 21-6-2017, bị cáo đi mua04 gói ma túy Heroine mục đích để sử dụng, khi bị kiểm tra, Tuấn đã thả 04 gói ma túy trên tay xuống đất thì bị bắt giữ và bị thu giữ 04 gói ma  túy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; xử phạt bị cáo từ 06 năm 06 tháng tháng đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Bị cáo đã có hành vi tàng trữ chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,442gam với mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo có 01 tiền án phạm tội thuộc thuộc trường hợp tái phạm, chưa được xóa án tích; hành vi của bị cáo là cố ý; đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.

Xét thấy, tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. 01 xe đạp và 01 điện thoại di động là tài sản của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với đối tượng đã bán gói ma túy cho L, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22-6-2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 540/GĐKTHS. Trả lại cho bị cáo 01 xe đạp, 01 điện thoại di động nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-9-2017).

3. Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Quang L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Quang L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


53
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về