Bản án 317/2017/HSST về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 317/2017/HSST NGÀY 25/10/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 10 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 367/2017/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2017/QĐXXST-HS ngày 11/10/2017 đối với bị cáo:

Bùi Hải N, sinh năm 1991 tại tỉnh H; ĐKHKTT: Xóm C, xã C, huyện, tỉnh H; Nơi cư trú: Lán công nhân gần khu nhà sinh viên A, Khu đô thị P, quận H, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Bùi Văn T và bà Bùi Thị T; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân:

- Năm 2011, Công an huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích (đã hết thời hiệu).

Bắt quả tang ngày 26/06/2017. Tạm giữ ngày 26/06/2017. Tạm giam ngày 05/07/2017. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 02 - Công an thành phố Hà Nội; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 05 phút ngày 26/06/2017, tại ven đường cao tốc 1B đối diện tòa nhà sinh viên A Khu đô thị P, phường H, quận H, thành phố H, tổ công tác công an phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai phát hiện bắt quả tang bị cáo Bùi Hải N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại lòng bàn tay trái của bị cáo 01 gói nilon màu đen kích thước 01x02 cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, bị cáo khai là gói ma túy mua về để sử dụng.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu GiGi Dream 7 vỏ máy màu đen bạc imei 1: 356504000016585, số imei 2: 356504000016593 và số tiền 150.000 đồng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật và đưa đối tượng về trụ sở làm rõ.

Tại bản kết luận giám định số 4433/KLGD-PC54 ngày 24/07/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Heroine, trọng lượng 0,233 gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/06/2017, bị cáo đi bộ ra khu vực đường cao tốc 1B đối diện tòa nhà sinh viên A Khu đô thị P, phường H, quận H, thành phố H, mục đích mua ma túy về sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông lái xe ôm không quen biết và nhờ người đàn ông lái xe ôm mua hộ 01 gói ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng, tiền công là 30.000 đồng. Người đàn ông lái xe ôm đồng ý và bảo bị cáo đứng đợi, khoảng 30 phút sau người đàn ông lái xe ôm quay lại và đưa cho bị cáo gói ma túy. Sau đó, bị cáo cầm gói ma túy vừa mua được ở tay trái và đi tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ gói Heroine ở trong lòng bàn tay trái cùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GiGi Dream 7 vỏ máy màu đen bạc trong túi quần phía trước và số tiền 150.000 đồng trong túi quần sau bên phải.

Ngày 26/6/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, dẫn giải bị cáo đi xác định nơi mua và người mua hộ ma túy nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ người mua hộ ma túy, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 338/CT-VKS-HS ngày 04/10/2017 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố bị cáo Bùi Hải N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận ngày 26/6/2017 đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nilon là ma túy loại Heroine, trọng lượng 0,233 gam trong lòng bàn tay trái như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Hải N từ 20 tháng tù đến 22 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong chứa 0,233 gam Heroine bên ngoài có chữ ký của bị cáo và giám định viên.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại đi động nhãn hiệu GiGi Dream 7 vỏ máy màu đen bạc số imei 1: 356504000016585, số imei 2: 356504000016593 và số tiền 150.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp nhau và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 05 phút ngày 26/06/2017 tại ven đường cao tốc 1B đối diện tòa nhà sinh viên A Khu đô thị P, phường H, quận H, thành phố H, bị cáo Bùi Hải N đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nilon là ma túy loại Heroine, trọng lượng 0,233 gam mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường H, quận H bắt quả tang thu giữ tang vật. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện nên hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo Bùi Hải N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự đã hết thời hiệu. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy, tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 quy định K từ ngày Luật s 12/2017/QH14 sửa đi, b sung một s điều của Bộ luật hình sự s 100/2015/QH 13 được công b, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây: a) Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, điểm b khoản 1 Điều này.

Áp dụng trong trường hợp phạm tội của bị cáo Bùi Hải N, Hội đồng xét xử nhận thấy: So sánh đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, thì mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 có mức hình phạt từ 02 năm tù đến 07 năm tù, tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt nhẹ hơn từ 01 năm tù đến 05 năm tù. Theo hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội, thực hiện Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015. Để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người mua ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra Công an quận Hoàng Mai không xác định được danh tính nên không có căn cứ để xử lý.

[7]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bao niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong chứa 0,233 gam Heroine bên ngoài có chữ ký của bị cáo và giám định viên là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GiGi Dream 7 vỏ máy màu đen bạc, quá trình điều tra xác định là điện thoại của bị cáo dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với số tiền 150.000 đồng là tiền do bị cáo lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 41 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 76; Điều 99; Điều 231; Điều 234 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Bùi Hải N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử pht: Bị cáo Bùi Hải N 20 (hai mươi) tháng tù. Thi hạn tù tính từ ngày 26/06/2017.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong chứa 0,233 gam Heroine, bên ngoài có chữ ký của bị cáo và giám định viên.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại đi động nhãn hiệu GiGi Dream 7 vỏ máy màu đen bạc số imei 1: 356504000016585, số imei 2: 356504000016593 và số tiền 150.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Hiện vật chứng đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập vật chứng số: 08/2018 ngày 16/10/2017 và theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949 tại Kho bạc Nhà nước quận Hoàng Mai ngày 27/6/2017.

Về án phí: Bị cáo Bùi Hải N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


201
  • Tên bản án:
    Bản án 317/2017/HSST về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    317/2017/HSST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hình sự
  • Ngày ban hành:
    25/10/2017
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
        Bản án/Quyết định đang xem

        Bản án 317/2017/HSST về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

        Số hiệu:317/2017/HSST
        Cấp xét xử:Sơ thẩm
        Cơ quan ban hành:
        Lĩnh vực:Hình sự
        Ngày ban hành:25/10/2017
        Là nguồn của án lệ
          Bản án/Quyết định sơ thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về