Bản án 31/2021/HS-ST ngày 19/01/2021 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 31/2021/HS-ST NGÀY 19/01/2021 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở UBND xã AN, huyện MA, tỉnh Điện Biên, TAND huyện Mường Ảng mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2020/TLST-HS, ngày 25 tháng 12 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2021/QĐXXST-HS, ngày 06/01/2021 đối với bị cáo: Họ và tên: Lường Văn M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1979; tại huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản XM, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Bố đẻ: Lường Văn D (đã chết); Mẹ đẻ: Lường Thị H (đã chết); Bị cáo có 08 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 07 trong gia đình; bị cáo có vợ là Lò Thị Th, sinh năm 1986; Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (Bị cáo bị phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo bản án số 56/2017/HS-ST, ngày 20/9/2017 của TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Đến ngày 19/10/2018 chấp hành xong hình phạt đến nay chưa được xóa án tích); Nhân thân:

Chưa bị xử lý hành chính; Đã bị kết án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2020 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Họ và tên: Lò Văn U, sinh năm 1989; cư trú tại: Bản B, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Như L, sinh năm 1985; cư trú tại: Bản HC, xã QT, huyện TG, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

3. Họ và tên: Tòng Văn M, sinh năm 1984; cư trú tại: Bản B, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khong 08 giờ ngày 18/8/2020 Lường Văn M đi làm nương tại khu vực bản PN, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên thì gặp người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ ở đâu, qua trao đổi Lường Văn M mua được cuả người này 01 gói Heroine gói bằng túi nilon màu hồng với giá 200.000đ. Mua được ma túy, Lường Văn M cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi đến nhà Lò Văn U, sinh năm 1989, trú tại Bản B, xã BL. Khi đến nhà Lò Văn U, Lường Văn M nhìn thấy Lò Văn U và Nguyễn Như L, trú tại Bản HC, xã QT, huyện TG đang ngồi ở bàn uống nước. Qua trao đổi Lường Văn M đã bán cho Nguyễn Như L 01 cục nhỏ Heroine từ gói Heroine vừa mua được, với giá 150.000đ. Nguyễn Như L chia cho Lò Văn U 01 phần nhỏ Heroine rồi cùng Lò Văn U lấy giấy bạc ra sử dụng, sau đó Lường Văn M cũng cấu lấy một ít Heroine của mình ra sử dụng. Khi Lường Văn M, Nguyễn Như L và Lò Văn U đang sử dụng hít ma túy thì Tòng Văn M, trú tại Bản B, xã BL đến hỏi mua của Lường Văn M 50.000đ Heroine thì Lường Văn M đã bán cho M số Heroine còn lại. Mua được Heroine M cũng sử dụng luôn tại nhà Lò Văn U bằng hình thức chích. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả nhóm vừa sử dụng xong ma túy thì tổ công tác Công an xã BL đến kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính đối với Lò Văn U, Nguyễn Như L, M. Sau đó thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lường Văn M để Điều tra làm rõ.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKSMA ngày 23/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Àng để xét xử bị cáo Lường Văn M về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lường Văn M, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS 2015. Xử phạt Lường Văn M từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 điều 47 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, b khoản 2 điều 106 BLTTHS năm 2015: Đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy của Lò Văn U và Nguyễn Như L; 01 bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng của Lò Văn U; 01 bật lửa màu đỏ có chữ “Thống nhất” đã qua sử dụng của Nguyễn Như L; 01 bơm kim tiêm màu trắng có chữ DISCARDAFTERUSE MPV, loại 3ml/cc đã qua sử dụng của Lò Văn U.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền thu giữ của Lường Văn M, đây là số tiền Lường Văn M bán Heroine cho Nguyễn Như L và M.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại bàn phím số, màu đen, nhãn hiệu NOKIA, số IMEL 1: 359597/05/345822/2, số IMEL 2: 359597/05/345823/0; 01 sim VIETTEL số 0356690597 đã cũ qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Lường Văn M 01 sim VINAPHON số 0813566004.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo Lường Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản luận tội của VKSND huyện MA, bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nội dung vụ án:

Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Lường Văn M đã khai và công nhận: Trong khoảng thời gian từ 09 giờ 00 phút đến 09 giờ 30 phút ngày 18/8/2020, tại nhà Lò Văn U, sinh năm 1989, trú tại Bản B, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên Lường Văn M hai lần bán trái phép ma túy cho Nguyễn Như L, trú tại Bản HC, xã QT, huyện TG, tỉnh Điện Biên và Tòng Văn M trú tại Bản B, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên thu được số tiền 200.000đ. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 06/CT-VKS-MA ngày 23/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MA đã truy tố.

Hành vi bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo đã bán trái phép ma túy cho hai người, do vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhLò Văn U vẫn thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 điều 251 BLHS quy định “Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

... b) Phạm tội hai lần trở lên;".

[2] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù, được qui định tại khoản 1 điều 9 BLHS. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.

[3] Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được sinh ra tại Bản XM, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên, học hết lớp 12/12 ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 2002 bị phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo bản án số 07/HS-ST, ngày 25/10/2002 của TAND huyện TG, tỉnh Điện Biên, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và án phí HSST; năm 2017 bị cáo bị phạt 18 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 56/2017/HS-ST, ngày 20/9/2017 của TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, ngày 19/10/2018 bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương, đến nay chưa được xóa án tích. Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo là một người chồng, người cha, bản thân đã hai lần bị kết án, lẽ ra sau khi chấp hành án phạt tù xong về địa phương bị cáo phải biết rèn Nguyễn Như L tu dưỡng bản thân, nhLò Văn U do không chịu tu dưỡng, không chịu khó làm ăn, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nh Lò Văn U vì muốn kiếm lời bị cáo đã cố ý đi vào con đường phạm tội, bị cáo đã bị xét xử một lần về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhLò Văn U không lấy đó làm bài học cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo; Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 BLHS là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo phạm 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Bị cáo Lường Văn M với nghề nghiệp là làm ruộng, không có thu nhập nào khác, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.

[5] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo lời khai của bị cáo là người đã bán Heroine cho bị cáo, do không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Ảng không đủ cơ sở xác minh làm rõ.

- Đối với Nguyễn Như L và Tòng Văn M đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính.

- Đối với Lò Văn U để cho các đối tượng nghiện mua bán chất ma túy rồi cùng với các đối tượng nghiện chất ma túy sử dụng ma túy tại nhà của mình nhLò Văn U không thỏa thuận hay thu lời gì, bản thân Lò Văn U cũng là người nghiện, nên hành vi đó không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chình.

[6] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 điều 47 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, b khoản 2 điều 106 BLTTHS năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy của Lò Văn U và Nguyễn Như L; 01 bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng của Lò Văn U; 01 bật lửa màu đỏ có chữ “Thống nhất” đã qua sử dụng của Nguyễn Như L; 01 bơm kim tiêm màu trắng có chữ DISCARDAFTERUSE MPV, loại 3ml/cc đã qua sử dụng của Lò Văn U.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền thu giữ của Lường Văn M, đây là số tiền Lường Văn M bán Heroine cho Nguyễn Như L và M.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại bàn phím số, màu đen, nhãn hiệu NOKIA, số IMEL 1: 359597/05/345822/2, số IMEL 2: 359597/05/345823/0; 01 sim VIETTEL số 0356690597 đã cũ qua sử dụng. (Đây là Điện thoại của bị cáo mà giữa bị cáo và Nguyễn Như L đã liên lạc với nhau để mua bán ma túy).

- Trả lại cho bị cáo Lường Văn M 01 sim VINAPHON số 0813566004.

[7] Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn án phí HSST cho bị cáo.

[8] Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[9] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lường Văn M 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 18/8/2020).

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 điều 47 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy của Lò Văn U và Nguyễn Như L; 01 bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng của Lò Văn U; 01 bật lửa màu đỏ có chữ “Thống nhất” đã qua sử dụng của Nguyễn Như L; 01 bơm kim tiêm màu trắng có chữ DISCARDAFTERUSE MPV, loại 3ml/cc đã qua sử dụng của Lò Văn U.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền thu giữ của Lường Văn M, đây là số tiền Lường Văn M bán Heroine cho Nguyễn Như L và M.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại bàn phím số, màu đen, nhãn hiệu NOKIA, số IMEL 1: 359597/05/345822/2, số IMEL 2: 359597/05/345823/0; 01 sim VIETTEL số 0356690597 đã cũ qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Lường Văn M 01 sim VINAPHON số 0813566004.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 24/12/2020).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí HSST cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2021/HS-ST ngày 19/01/2021 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:31/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Ảng - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về