Bản án 31/2021/HS-PT ngày 19/03/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 31/2021/HS-PT NGÀY 19/03/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19/03/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2021/TLPT-HS ngày 28 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Viết T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 20/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo kháng cáo:

NGUYỄN VIẾT T; sinh ngày 12/08/1998 tại Quảng Nam; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn A, xã B, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Nguyễn Q (s) và bà Trương Thị K (s); Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út, chưa có vợ con.

Tiền sự: không.

Tiền án: Ngày 27/7/2017 bị TAND huyện Nam Giang xử phạt 15 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 20/2015/HS -ST ngày 25/05/2015 của TAND huyện Đại Lộc buộc bị cáo Nguyễn Viết T phải chấp hành 24 tháng tù giam. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/11/ 2018.

Nhân thân: Ngày 25/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách 19 tháng.

Bị cáo bị bắt giam ngày 03/8/2020. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 03/08/2020, Nguyễn Viết T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 92 E1- 221.xx chở Trần Phương Vệ T1 ra Đà Nẵng chơi. Trên đường đi thì T1 rủ T đi mua ma túy về sử dụng thì T đồng ý, khi cả hai đến gần khu vực cầu Nguyễn Tri Phương, thành phố Đà Nẵng thì T1 dùng điện thoại di động gắn sim số 0899.459.xxx gọi đến số 0935.314.xxx của 01 thanh niên (C hưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy về sử dụng thì người thanh niên này đồng ý bán và hẹn gặp nhau tại khu vực gầm cầu Nguyễn Tri Phương. Sau đó, T1 nói với T điều khiển điều khiển xe đến điểm hẹn để mua ma túy thì T đồng ý. T và T1 đến điểm hẹn thì có 01 người thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu Airblade (không xác định được biển kiểm soát) đến gặp T và T1. Tại đây, T1 lấy tiền của mình ra đưa cho T 1.700.000 đồng để T mua ma túy của người thanh niên nêu trên. Do số tiền T đưa chưa đủ nên T1 tiếp tục chuyển vào tài khoản số: 5621000078 xxxx theo yêu cầu của người thanh niên với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền 3.700.000 đồng thì người thanh niên lấy 01 gói thuốc lá chứa chất ma túy b ên trong kẹp vào ba ga xe mô tô của T và T1. Sau khi mua được ma túy thì T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T1 về Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Trên đường đi về, T1 lấy gói thuốc lá ra kiểm tra thì phát hiện có 02 gói ma túy nên đã bỏ vào túi quần của mình. Khi cả hai về đến k hu vực chốt chặn kiểm dịch Covid ở thôn Phú Sơn Nam, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, TP. Đà nẵng thì bị kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ:

- 02 gói ni lông bên trong có chứa tinh thể màu trắng;

- 01 xe mô tô hiệu Exciter màu xanh, gắn biển kiểm soát 92 E1- 221.xx;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số: 0962774xxx;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, gắn sim số: 0899459xxx;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, gắn sim số: 0777525xxx;

- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu White horse;

- Số tiền 1.000.000 đồng;

- Số tiền 2.000.000 đồng do chị Nguyễn Thị M rút từ tài khoản ngân hàng số 56210000780xxx và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Theo Kết luận giám định số 235 ngày 07/8/2020 của Phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng xác định: Chất tinh thể màu trắng trong 02 gói nylong trong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu tinh thể là 14,837 gam.

Với nội dung trên, t ại Bản án sơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 20/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang , thành phố Đà Nẵng đã quyết định :

Căn cứ: điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự .

Xử phạt: Nguyễn Viết T 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 03/08/2020.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Viết T số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 28/12/2020, bị cáo Nguyễn Viết T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án sơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 20/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức án 07 năm tù mà cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo phù hợp, không nặng; bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Viết T đã khai nhận: Vào ngày 03/08/2020 Nguyễn Viết T điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu xanh BKS: 92E1- 221.xx chở Trần Phương Vệ T1 ra Đà nẵng mua 02 gói ma túy với giá 3.700.000 đồng nhằm sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T điều khiển xe chở T1 về huyện Đạ i Lộc, tỉnh Quảng Nam. Khi đến khu vực chốt chặn kiểm dịch Covid thuộc thôn Phú Sơn Nam, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thì bị bắt quả tang.

Vì vậy, Bản án hình ssơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 20/12/2020 ca Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Nguyễn Viết T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[2]. Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T, HĐXX thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng . Bị cáo đã từng bị xét xử 02 lần nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội , bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị c áo được hưởng, xử phạt mức án 07 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng . Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới phát sinh. Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo mà giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Bị cáo Nguyễn Viết T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1/. Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ: điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự .

Xử phạt: Nguyễn Viết T 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 03/8/2020.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Viết T số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

2/. Về án phí : Bị cáo Nguyễn Viết T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3/. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lự c pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


23
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 31/2021/HS-PT ngày 19/03/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

      Số hiệu:31/2021/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đà Nẵng
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:19/03/2021
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về