Bản án 31/2019/HNGĐ-ST ngày 15/08/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 31/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 35/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị Bích Ch, sinh năm 1979;

Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1975;

Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Mai Thị Bích Ch trình bày:

Bà và ông Nguyễn Duy H sống chung với nhau năm 2007, đến năm 2009 thì đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Ninh Hiệp cấp giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 25/02/2009. Quá trình chung sống ông bà có với nhau 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Phi H2, sinh ngày 19/9/2010.

Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do ông H không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu say rồi về chửi mắng vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Duy H.

Về con chung: Bà tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Phi H2, sinh ngày 19/9/2010 đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông H.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật Cháu Nguyễn Ngọc Gia H1 và cháu Nguyễn Phi H2 có nguyện vọng xin ở với mẹ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Mai Thị Bích Ch vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Duy H; về con chung: Bà tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Phi H2, sinh ngày 19/9/2010 đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông Hcấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông H.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, công khai đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Phi H2, sinh ngày 19/9/2010 cho bà Mai Thị Bích Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; bà Ch không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Bà Ch không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông H nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Duy H mặc dù đã được Tòa án tống đạt Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông Hđều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông H theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Duy H hiện cư trú tại: Tổ dân phố 1, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Bích Ch và ông Nguyễn Duy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ninh Hiệp và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 25/02/2009 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời trình bày của bà Mai Thị Bích Ch, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa bà Ch và ông H không hạnh phúc do ông H không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu say rồi về chửi mắng vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Bà Ch khẳng định không còn tình cảm với ông H nên xin ly hôn. Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng, ông H cố tình vắng mặt không đến Tòa, điều này đủ cơ sở xác định ông H không còn quan tâm đến bà Ch. Như vậy, đời sống chung của bà Ch, ông H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của bà Ch là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Theo tài liệu giấy khai sinh và lời khai của bà Ch thì có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Phi H2, sinh ngày 19/9/2010 bà Ch tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành; cháu Hân, cháu Phi cũng có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như bảo đảm sự phát triển toàn diện và cuộc sống ổn định cho các cháu, Hội đồng xét xử xét nên giao 02 con chung cho bà Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Ch không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ch không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông H nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bà Ch phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Bích Ch.

1.1. Về hôn nhân: Bà Mai Thị Bích Ch được ly hôn ông Nguyễn Duy H.

1.2. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Phi H2, sinh ngày 19/9/2010 cho bà Mai Thị Bích Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Ông Nguyễn Duy H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Quy định chung: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Bà Mai Thị Bích Ch phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Ch đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006215 ngày 04 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Bà Ch đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2019/HNGĐ-ST ngày 15/08/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:31/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Hòa - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về