Bản án 31/2017/HS-ST ngày 31/07/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 31/2017/HS-ST NGÀY 31/07/2017 VỀ TỘI LƯỜI ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 7 năm 2017 tại: Sân trường trung học cơ sở xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2017/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Quốc D - sinh ngày: 29/5/1987;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: 112/9, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ sửa chữa điện tử; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Hoàng Phúc S, sinh năm 1961; con bà: Hà Thị L, sinh năm: 1967; anh, chị, em ruột: Có 04 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; vợ: Phạm Thị Thu S, sinh năm 1988; con: Có 01 con sinh năm 2010; tiền án: có 01 tiền án. Năm 2012 Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 3 năm tù cho hưởng án treo về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; tiền sự: Không có;

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định từ ngày 03/4/2017 đến nay. Có mặt.

Người bị hại:

Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1972; trú tại: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Văn T, sinh năm 1992; trú tại: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

Chị Lương Thị N, sinh năm 1972; trú tại: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

Bà Hà Thị L, sinh năm 1967; trú tại: Thôn 1, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Hoàng Quốc D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Tháng 7/2014 Hà Văn T cùng vợ là Hoàng Thị T vào tỉnh Đắk Lắk thăm Hoàng Quốc D là chú họ của T. Qua cuộc nói chuyện tại nhà D, T nói với D là có đứa em thi vào trường Công an. Nghe được vậy, D liền nói dối với T là có người quen ở Bộ Công an có xuất học vào thẳng không cần thi cử gì. Sau khi biết được như vậy khoảng 20 ngày sau thì T quay về nhà ở huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Do công việc làm ăn của D thua lỗ nên D đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Do vậy, D đã chủ động gọi điện thoại cho T nói là sẽ lo chạy được vào trường Công an với số tiền là 150.000.000đ nếu không lo được thì D sẽ trả lại tiền toàn bộ. Do T biết Hoàng Kiều D con gái ông Hoàng Văn Đ đang làm hồ sơ thi vào trường công an và là người thân quen nên T sang nói với ông Đ biết về việc Hoàng Quốc D có thể lo được xuất vào Học viện an ninh với số tiền là 150.000.000đ nếu không được thì D sẽ trả lại toàn bộ. Khi T nói như vậy thì ông Hoàng Văn Đ đồng ý nhờ giúp. Sau đó T gọi điện cho Hoàng Quốc D để ông Đ trực tiếp nói chuyện (T không thực hiện việc trao đổi, giao dịch gì). Qua nhiều lần D gọi điện thoại cho ông Định, D đã dùng thủ đoạn xin đi học trên để lừa ông Đ lấy được 140.000.000đ gửi vào tài khoản số 5219205006327 của Hoàng Quốc D mở tại ngân hàng Agribank tỉnh Đắk Lắk. Số tiền này ông Đ đã chuyển 5 lần theo yêu cầu của D, cụ thể: Lần 1 vào ngày 14/8/2014 đã chuyển 10.000.000đ, lần 2 vào ngày 19/8/2014 chuyển 50.000.000đ, lần 3 vào ngày 17/9/2014 chuyển 40.000.000đ, lần 4 vào ngày 13/4/2015 chuyển 10.000.000d, lần 5 vào ngày 27/4/2015 chuyển 30.000.000đ (Các lần chuyển tiền ông Đ đều điện thoại báo cho D biết). Sau khi chuyển tiền nhiều lần nhưng con gái ông Đ vẫn chưa được đi học nên ông Đ đã gọi điện cho D để đòi tiền, nhưng không đòi được do vậy đã làm đơn trình báo cơ quan Công an để giải quyết.

Tại Cáo trạng số: 23/KSĐT ngày 15/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để xét xử Hoàng Quốc D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 139 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.

Phần tranh luận tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 5 Điều 60; Điều 51; Điều 33 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.

Không đề nghị xử phạt bổ sung.

Về phần dân sự: Đề nghị buộc bị cáo trả lại số tiền 90.000.000đ cho người bị hại anh Hoàng Văn Đ và xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định đã trả lại cho anh Hoàng Văn Đ 50.000.000đ.

Bị cáo không tranh luận gì.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.

XÉT THẤY

Từ tháng 7/2014 đến ngày 27/4/2015 Hoàng Quốc D lợi dụng sự quen biết của người thân trong gia đình biết được cháu Hoàng Thị D là con gái của anh Hoàng Văn Đ đang thi vào Trường Học viện an ninh nên đã dùng thủ đoạn gian dối là có thể xin một suất vào học Trường Học viện an ninh - Bộ Công an mà không phải thi cử nhằm chiếm đoạt số tiền là 150.000.000đ. Anh Hoàng Văn Đ đã tin tưởng và đã giao cho D 140.000.000đ, số tiền này D đã chi tiêu vào mục đích cá nhân hết. Như vậy đã đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 của Bộ luật hình sự. Qua phần thẩm vấn công khai và phần tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây dư luận xấu trong nhân dân tại khu dân cư nên cần phải xử lý về hình sự đối với bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng: Năm 2012 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 3 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ mà chưa được xóa án tích đến nay lại phạm tội mới là thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự để xử phạt đối với bị cáo.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Thấy tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động người thân giúp bị cáo trả lại tiền cho người bị hại được 50.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình, trước đó đã bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn cố tình thực hiện tội phạm khác, nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 139: Thấy bị cáo không có tài sản riêng nên miễn phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về phần dân sự: Bị cáo đã chiếm đoạt của anh Hoàng Văn Đ 140.000.000đ và mẹ bị cáo đã giúp bị cáo khắc phục hậu quả được 50.000.000đ, nay còn 90.000.000đ cần buộc bị cáo trả lại cho anh Hoàng Văn Đ.

Về tổng hợp hình phạt: Tại bản án số 09/2012/HS-ST ngày 28/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2011 đến ngày 05/01/2012 là 01 tháng 14 ngày. Thời hạn phạt tù còn lại buộc bị cáo phải chấp hành là 02 năm 10 tháng 16 ngày. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”. Tính đến nay bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách lại phạm tội mới do đó áp dụng khoản 5 Điều 60 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 03 năm tù của bản án trước và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 50, 51 của Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã trả cho người bị hại là anh Hoàng Văn Đ 50.000.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 5 Điều 60; Điều 50; 51; Điều 33 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Quốc D 03 (Ba) năm tù và tổng hợp hình phạt của bản án số 09/2012/HS-ST ngày 28/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chịu là 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 03 tháng 4 năm 2017, được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam theo bản án số 09/2012/HS-ST ngày 28/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk là 01 (một) tháng 14 (mười bốn) ngày.

Miễn phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Việc bồi thường thiệt hại, áp dụng các Điều 584, 585, 589, 357 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Quốc D phải trả lại cho anh Hoàng Văn Đ số tiền 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Hoàng Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Hoàng Quốc D không thi hành xong khoản tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

- Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 41 của Bộ luật hình sự xử lý như sau: Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại cho anh Hoàng Văn Đ 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

- Về án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Quốc D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.500.000đ (Bn triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự có giá ngạch để sung công quỹ Nhà Nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (Thị trấn) nơi người đó cư trú.


545
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2017/HS-ST ngày 31/07/2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:31/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tràng Định - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 31/07/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về