Bản án 31/2017/HNGĐ-ST ngày 29/09/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 31/2017/HNGĐ-ST NGÀY 29/09/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2017/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên toà số: 43/2017/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Anh Đường Văn L, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: ấp 8 I, xã Thuận Hoà, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

2.  Bị đơn: Chị Nguyễn Hồng Th, sinh năm 1988 (vắng mặt)

HKTT: ấp 8 I, xã Thuận Hoà, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

Chổ ở hiện nay: ấp Xẻo Lá A, xã Tân Thạnh, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện ngày 23/9/2016, đơn khởi kiện bổ sung ngày 08/6/2017 nguyên đơn anh Đường Văn L trình bày và yêu cầu như sau:

Anh và chị Th cưới nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuận Hoà, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Sau khi cưới nhau, vợ chồng chung sống thật sự hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không phù hợp, phát sinh nhiều bất đồng trong cuộc sống, chị Th không tôn trọng và có những lời lẽ không tốt đối với cha mẹ anh, mỗi lần vợ chồng cự cãi là chị Th bỏ về nhà cha mẹ ruột. Anh đã khuyên ngăn và nhẫn nhịn rất nhiều nhưng chị Th vẫn không thay đổi, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên hai người đã ly thân từ năm 2014 đến nay.

Về con: Vợ chồng có hai đứa con chung tên Đường Duy L, sinh ngày 15/12/2010 và Đường Bá H, sinh ngày 09/10/2013, anh trực tiếp nuôi dưỡng hai con từ khi chị Th về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ: Hiện vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Được ly hôn với Nguyễn Hồng Th.

- Về con: Yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con Đường Duy L và Đường Bá H, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Đối với bị đơn Nguyễn Hồng Th: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn chị Nguyễn Hồng Th để chị biết và có ý kiến về nội dung khởi kiện của nguyên đơn anh Đưởng Văn L, nhưng hết thời gian theo quy định chị Th không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với nội dung khởi kiện của anh L. Đồng thời trong suốt quá trình tiến hành các thủ tục để giải quyết vụ án chị Th cũng không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì bằng văn bản gửi đến Tòa án.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn anh Đưởng Văn L vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như nêu trên.

- Bị đơn chị Nguyễn Hồng Th vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ (giao trực tiếp) Thông báo về việc thu lý vụ án cho bị đơn chị Nguyễn Hồng Th để chị biết và có ý kiến về nội dung khởi kiện của nguyên đơn anh Đưởng Văn L, nhưng hết thời gian quy định mà chị Th không có ý kiến hay yêu cầu gì, nên Tòa án triệu tập các đương sự để tiến hành phiên hợp công khai chứng cứ và hòa giải theo thủ tục chung. Mặc dù, đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng bị đơn chị Nguyễn Hồng Th vắng mặt không có lý do, như vậy đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cùng giấy triệu tập đương sự cho bị đơn chị Nguyễn Hồng Thắ nhưng triệu tập để xét xử lần thứ hai chị Th vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn anh Đường Văn L không yêu cầu hoãn phiên toà, do đó HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Hồng Th theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đường Văn L và chị Nguyễn Hồng Th cưới nhau năm 2009 và đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Uỷ ban nhân dân xã nơi một trong hai người cư trú lúc đó) và đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật (tự nguyện, khi đăng ký kết hôn đủ tuổi kết hôn...). Như vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh L đối với chị Th thấy rằng, có cơ sở để chấp nhận. Bởi vì, theo chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, giữa anh L và chị Th đã có nhiều bất đồng xảy ra, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hai người đã ly thân nhau một thời gian dài (từ năm 2014 cho đến nay), mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn sự quan tâm chăm sóc yêu thương lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, anh L đứng đơn xin ly hôn nhưng khi Tòa án thụ lý vụ án và thông báo cho chị Th biết, thì chị cũng không có ý kiến gì phàn đối đối với yêu cầu của anh Lâu, nên cần chấp nhận yêu cầu của anh L, cho anh L được ly hôn đối với chị Th là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con: Theo anh L trình bày, vợ chồng có hai đứa con chung là Đường Duy L, sinh ngày 15/12/2010 và Đường Bá H, sinh ngày 09/10/2013, hiện anh L đang nuôi dưỡng. Anh L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con sau khi vợ chồng ly hôn, chị Th không thể hiện ý kiến hay yêu cầu gì phản đối. Theo chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, từ khi anh L và chị Th ly thân nhau cho đến nay anh L trực tiếp nuôi dưỡng  hai con đã ổn định, việc nuôi con của anh L chu đáo, các con của anh có cuộc sống ổn định, được đi học, có được sự quan tâm, chăm sóc của anh và gia đình, tâm sinh lý phát triển bình thường (có xác nhận của chính quyền địa phương). Bản thân đứa con trên 7 tuổi (Đường Duy L) cũng có nguyện vọng được sống với cha (anh L) khi cha mẹ ly hôn. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh L, giao Đường Duy L và Đường Bá H cho anh L được tiếp tục nuôi dưỡng sau khi anh và chị Th ly hôn là phù hợp theo quy định của khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản và nợ: Theo anh L trình bày, vợ chồng không có tài sản chung do vợ chồng sống chung với cha mẹ chứ chưa ra sống riêng, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác, nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Thấy rằng, sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho chị Th biết các vấn đề mà anh Lâu yêu cầu Toà án giải quyết, nhưng cho đến nay chị Th vẫn không có ý kiến hay yêu cầu gì phản đối đối với yêu cầu của anh L nêu ra, do đó HĐXX không xem xét giải quyết đến tài sản và nợ của anh L và chị Th trong vụ án này, vì không có ai tranh chấp và yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 207 và điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 2 Điều 53; Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đường Văn L đối với chị Nguyễn Hồng Th. Cho anh Đường Văn L được ly hôn với chị Nguyễn Hồng Th.

- Về con: Giao Đường Duy L, sinh ngày 15/12/2010 và Đường Bá H, sinh ngày 09/10/2013 là con chung của anh Đường Văn L và chị Nguyễn Hồng Th cho anh Đường Văn L tiếp tục nuôi dưỡng sau khi anh L và chị Th ly hôn (hiện Duy L và Bá H đang sống với anh L).

- Về tài sản và nợ: Không xem xét đến.

- Về án phí: Anh Đưởng Văn L phải chịu phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0000376 ngày 19/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh. Anh L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn anh Đưởng Văn L, vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Hồng Th. Báo cho nguyên đơn anh Đường Văn L biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/9/2017). Bị đơn chị Nguyễn Hồng Th có quyền kháng cáo bản án này thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản chính bản án này hoặc bản chính bản án này được niêm yết theo quy định pháp luật.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2017/HNGĐ-ST ngày 29/09/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:31/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Minh - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về