Bản án 309/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T S, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 309/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã T S, Tòa án nhân dân thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 325/2017HSST ngày 29 tháng 8 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/QĐXX- ST ngày 12/9/2017 đối với bị cáo:

Lê Đức S - Sinh năm 1980.

HKTT: Thôn H Đ, xã H Q, huyện Q V, tỉnh Bắc Ninh.

Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Lê Đức X, sinh năm 1960; Mẹ đẻ: Đỗ Thị Th, sinh năm 1963; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; có 01 con, sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/05/2017, tổ công tác gồm phòng PC 47 Công an tỉnh Bắc Ninh phối hợp công an thị xã T S, công an phường Đ Ng, tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn khu phố Ng Gi, phường Đ Ng. Quá trình tuần tra, tổ công tác đã kiểm tra nam thanh niên tự khai tên là Lê Đức S. Tổ tuần tra đã phát hiện và thu giữ tại túi quần phía trước bên phải S đang mặc 01(một) gói nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi ma túy). S khai nhận vừa mua gói ma túy với giá 150.000đồng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an kiểm tra và thu giữ và lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi vật chứng đi giám định.

Tại kết luận giám định số 713/KLGĐ - PC 54 ngày 23/05/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01(một) gói giấy bạc màu trắng có trọng lượng 0,3815gam; Là ma túy,; Loại ma túy: Chất Heroine”.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay Lê Đức S khai nhận: Do bản thân S nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 23/05/2017, S đi xe ôm từ cầu Hồ, Tiên Du, Bắc Ninh đến thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh mục đích để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu phố Ng Gi, phường Đ Ng, S nhìn thấy một người đàn ông đang đứng ở bên đường có biểu hiện giống người nghiện ma túy nên S bảo người lái xe ôm dừng lại. S trả tiền người xe ôm rồi đi bộ tiến lại gần người đàn ông đứng ở bên đường và hỏi người này có ma túy không, bán cho S 150.000đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng), người đàn ông này trả lời “có”. Sứ đưa người này 150.000đồng, người này đưa lại cho S 01(một) gói nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy bạc màu trắng. S cầm gói nhỏ ma túy đút vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc và đi tìm nơi sử dụng. Trên đường đi tìm nơi sử dụng S bị lực lượng công an kiểm tra và thu giữ vật chứng gói ma túy S vừa mua.

Bản cáo trạng số 228/Ctr- VKS ngày 28/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Lê Đức S tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 (điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi cất giấu chất ma túy trên người để sử dụng cho bản thân là phạm tội. Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra chứng cứ, lý lẽ và sau khi phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1, Điều 194; Điều 33; điểm p, khoản 1 Điều 46 BLHS. Khoản 3 Điều 7; điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Luật số 12/2017/QH 14 sửa đổi một số điều của Bộ luật hình sự số 100/ 2015/QH13. Xử phạt bị cáo Lê Đức S từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/5/2017. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của các người làm chứng có trong hồ sơ, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ của bị cáo là (01) gói nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy một mặt màu trắng, trong có chứa chất bột màu trắng; Kết luận giám định của Phòng KTHS- Công an tỉnh Bắc Ninh. Đã đủ căn cứ khẳng định, hành vi cất giấu 0,3815 gam chất ma túy là Heroine với mục đích sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cho bản thân của Lê Đức S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS, do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T S truy tố bị cáo tội danh trên và theo khoản 1, điều 194 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và nhân thân của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây tác hại đến sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, nhân cách và sự phát triển bình thường đối với chính bị cáo, hành vi đó còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy với bị cáo cần phải có một mức hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Mặt khác theo cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS có khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù, song theo điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 quy định khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.

Hội đồng xét xử thấy cần vận dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 là có lợi cho bị cáo khi lượng hình.

Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù giam, với bị cáo lẽ ra cần phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của BLHS. Song xét bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, mục đích phạm tội không có tính tư lợi nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Số Heroine còn lại là chất ma tuý Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng do vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

Liên quan trong vụ án còn có: Người đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, và không nhớ ngôi nhà đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nên tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng khoản 1, Điều 194; Điều 33; điểm p, khoản 1, Điều 46; Điều 41 BLHS; Điều 76; Điều 228 BLTTHS; khoản 3, Điều 7; điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Luật số 12/2017/QH 14 sửa đổi một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt: Lê Đức S 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/5/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 26/9/2017 để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo biên bản bàn giao giữa Công an thị xã T S với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh ngày 24/8/2017.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


125
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về