Bản án 308/2019/HSST ngày 25/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 308/2019/HSST NGÀY 25/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 357/2019/HSST ngày 07/10/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2019/QĐXXST-HS ngày 14/10/2019 đối với:

I. NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI

Phùng Văn T; Giới tính Nam; Sinh năm 1984, tại tỉnh Hà Tĩnh; Thường trú thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Tạm trú tổ 9, ấp Đ, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc Kinh; Nghề nghiệp không; Trình độ học vấn 07/12; Cha Phùng Văn C, mẹ Lê Thị L; Vợ Nguyễn Thị N, con sinh năm 2019; Tiền sự không, Tiền án không. Nhân thân: Ngày 15/04/2011, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 23/07/2012. Tạm giữ từ ngày 13/04/2019 đến ngày 22/04/2019 (có mặt).

II. NHỮNG NGƯƠI THAM GIA TỐ TỤNG

1. Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 2000. Cư trú số 15, đường số X, khu phố Y, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (váng mặt).

2. Người có quyền nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983. Cư trú tổ 9, ấp Đ, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

3. Người làm chứng: Ông Dương Quốc H, sinh năm 1996

- Ông Nguyễn Cẩm T, sinh năm 1998 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Khoảng 20 giờ ngày 13/04/2019, Q không rõ lý lịch rủ Phùng Văn T đi trộm cắp tài sản, Phùng Văn T đồng ý. Khi đến khu nhà trọ số 15, đường số 06, khu phố 6, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, Quỳnh dùng đoản phá khoa xe Winner biển số 95B1-527.59 của bà Nguyễn Thị T rồi kêu Phùng Văn T đến dắt xe của bà Nguyễn Thị T ra ngoài. Phùng Văn T đẩy đi được khoảng 10m thì bị mọi người phát hiện, bắt được giao cho công an phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, còn Quỳnh thì chạy thoát.

Vật chứng vụ án: 01 chiếc xe Winner biển số 95B1-527.59, 01 chiếc xe mô tô hiệu Jupiter Mx King màu đỏ, biển số không số, số khung 0750KK012421, số máy G3E6E0479938,01 cây đoản phá khoá bằng kim loại hình L trắng gồm 02 đoạn: 01 kim loại tráng hình trụ 09 cm, 01 dẹt, 01 đầu lục giác, 01 đoạn kim loại trắng hình trụ 08 cm, 01 đầu lcm, 01 đầu 1,2 cm.

Biên bản định giá tài sản số 612/CV-HĐĐGTSTTTHS ngày 22/04/2019 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh kết luận chiếc xe Winner biển số 95B1-527.59 trị giá 35.000.000 đồng.

2. Cáo trạng số 308/CT-VKSTĐ ngày 01/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phùng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điều 173 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

3. Tại phiên tòa: Phùng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu. Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức hình phạt từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sn” đối với Phùng Văn T nhưng được hưởng án treo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

4. Phùng Văn T bào chữa và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

1. Các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

2. Lời khai nhận của Phùng Văn T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử đã có căn cứ kết luận, Q là người không rõ lý lịch rủ Phùng Văn T đi trộm cắp tài sản, Quỳnh dùng đoản phá khoá xe rồi kêu Phùng Văn T đến đẩy xe đi được khoảng 10m thì bị bắt, còn Q chạy thoát. Như vậy trong vụ án này, Q là người chủ động rủ Phùng Văn T đi trộm cắp tài sản và là người trực tiếp dùng đoản phá khoá xe. Sau khi phá được khoá xe, thì Q kêu Phùng Văn T đến dắt xe thì bị bắt, như vậy Phùng Văn T thực hiện hành vi với vai trò thụ động, với vai trò giúp sức nên phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điều 173 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bà Nguyễn Thị T được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự và an toàn xã hội.

Đối với người tên Q không rõ lý lịch, công an quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra, xử lý sau.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh truy tố Phùng Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, hội đồng xét xử áp dụng điều 173 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt Phùng Văn T mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

4. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phùng Văn T có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, có nghề nghiệp ổn định, nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điều 51 khoản 1 điểm h, s Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét thấy, Phùng Văn T có khả năng cải tạo, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Phùng Văn T không thuộc những trường hợp không được hưởng án treo quy định tại điều 3 khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Nên hội đồng xét xử áp dụng điều 51 khoản 1 điểm h, s Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 khoản 1, 2, 3, 4, 5 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho Phùng Văn T được hưởng án treo, có thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục và cải tạo.

5. Xử lý vật chứng:

5.1 Đối với chiếc xe Winner biển số 95B1-527.59, công an quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại cho bà Nguyễn Thị T theo biên bản ngày 14/04/2019, hiện bà Nguyễn Thị T không có yêu cầu gì khác nên hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5.2 Đối với chiếc xe mô tô hiệu Jupiter Mx King màu đỏ, biển số không số, số khung MH3UGO75012421, số máy G3E63E-0479938 đứng tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N. Ngày 13/04/2019, Phùng Văn T lấy xe đi bà Nguyễn Thị N không biết, do đó Hội đồng xét xử trả lại cho bà Nguyễn Thị N.

5.3 Đối với 01 cây đoản phá khoá bằng kim loại hình L trắng gồm 02 đoạn: 01 kim loại trắng hình trụ 09 cm, 01 dẹt, 01 đầu lục giác, 01 đoạn kim loại trắng hình trụ 08 cm, 01 đầu 1 cm, 01 đầu 1,2 cm, hiện không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

6. Phùng Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Từ những nhận định trên, hội đồng xét xử.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố, Phùng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản.

2. Áp dụng điều 173 khoản 1, điều 51 khoản 1 điểm h, s, điều 65 khoản 1, 2 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 khoản 1, 2, 3, 4, 5; Đều 3 khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HDTP ngày l5/05/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt: Phùng Văn T01 (một) năm tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách, nếu Phùng Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì tòa án có thể quyết định buộc Phùng Văn T phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp Phùng Văn T thực hiện hành vi phạm tội mới thì tòa án buộc Phùng Văn T phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.

Giao Phùng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Phùng Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 69 khoản 1 của Luật thi hành án hình sự.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điều 106 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

3.1 Tịch thu, tiêu hủy 01 cây đoản phá khoá bằng kim loại hình L trắng gồm 02 đoạn: 01 kim loại trắng hình trụ 09 cm, 01 dẹt, 01 đầu lục giác, 01 đoạn kim loại trắng hình trụ 08 cm, 01 đầu 1cm, 01 đầu 1,2 cm (Theo phiếu nhập kho số NKT2020/002 ngày 09/10/2019 của chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh).

3.2 Trả lại chiếc xe mô tô hiệu Jupiter Mx King màu đỏ, biển số không số, số khung MH3UGO75012421, số máy G3E63E-0479938 cho bà Nguyễn Thị N (Theo phiếu nhập kho số NKT2020/002 ngày 09/10/2019 của chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh).

4. Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015; Điều 23 khoản 1 điểm a Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí tòa án ngày 30/12/2016. Phùng Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Phùng Văn T được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.


1
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về