Bản án 306/2017/HSST ngày 22/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T S, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 306/2017/HSST NGÀY 22/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã T S, Tòa án nhân dân thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 307/2017HSST ngày 15 tháng 8 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số258/QĐXX- ST ngày 17/8/2017 đối với bị cáo:

Lô Đình Ng - Sinh năm 1987. HKTT: N D, xã Â T, huyện N R, tỉnh B K.

Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Tày; Tôn Giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Lô Văn D, sinh năm 1966; Mẹ đẻ: Lương Thị C, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là: Lý Thị H, sinh năm 1990 (đã ly hôn năm 2010); có 01 con, sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi như sau:

Hồi 11 giê 20 ngµy 08/05/2017, tại khu phố Th L, phường Đ B, thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác công an Đồn VSIP bắt quả tang Lô Đình Ng. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ lòng bàn tay trái của Ng 01 gói nhỏ được bọc bằng giấy có một mặt ngoài màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có chứ chất bột màu trắng (nghi là ma  túy). Tổ công tác công an Đồn VSIP đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 660/KLGĐ-PC54 ngày 08/05/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy một mặt màu vàng (mặt bên trong màu trắng) có trọng lượng 0,2857gam; là ma túy; Loại ma túy: chất Heroine".

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T S và tại phiên tòa hôm nay, Lô Đình Ng đã khai nhận: Bản thân Ng sử dụng ma túy từ năm 2013. Khoảng 10 giê 45 phút ngµy 08/05/2017, Lô Đình Ng đi xe ôm từ khu phố Đ H, phường Ch Kh, thị xã T S đến khu phố Th L, phường Đ B với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến phường Đ B, Ng xuống xe, người xe ôm bỏ đi đâu Ngọc không biết. Ng đi bộ vào một ngõ nhỏ thì gặp một nam thanh niên đi bộ hướng ngược chiều với Ng, Ng hỏi người thanh niên chỗ bán ma túy thì người thanh niên chỉ Ng đến một ngôi nhà có cửa xếp bằng sắt màu xám khép kín. Ng đi bộ đến trước cửa ngôi nhà người thanh niên chỉ, lấy 01 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng đút qua khe cửa vào trong nhà. Trong nhà có người cầm tiền và đưa ra ngoài cho Ng 01 gói nhỏ được bọc ngoài là lớp giấy màu vàng, mặt bên trong màu trắng, trong chứa chất bột màu trắng. Ng cầm gói nhỏ trong lòng bàn tay trái rồi quay ra đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác công an đồn VSIP bắt quả tang.

Bản cáo trạng số 212/Ctr- VKS ngày 14/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Lô Đình Ng tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 (điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi cất giấu chất ma túy trên người để sử dụng cho bản thân là phạm tội. Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra chứng cứ, lý lẽ và sau khi phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lô Đình Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1, Điều 194; Điều 33; điểm p, khoản 1, khoản 2, Điều 46 BLHS. Khoản 3 Điều 7; điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Luật số 12/2017/QH 14 sửa đổi một số điều của Bộ luật hình sự số 100/ 2015/QH13. Xử phạt bị cáo Lô Đình Ng từ 14 đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/5/2017. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của các người làm chứng có trong hồ sơ, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ của bị cáo là (01) gói nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, trong có chứa chất bột màu trắng; Kết luận giám định của Phòng KTHS- Công an tỉnh Bắc Ninh. Đã đủ căn cứ khẳng định, hành vi cất giấu 0,2857 gam chất ma túy là Heroine với mục đích sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cho bản thân của Lô Đình Ng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS, do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T S truy tố bị cáo tội danh trên và theo khoản 1, điều 194 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và nhân thân của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây tác hại đến sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, nhân cách và sự phát triển bình thường đối với chính bị cáo, hành vi đó còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy với bị cáo cần phải có một mức hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 2 điều 46 BLHS với lý do bị cáo là người dân tộc tày. HĐXX xét thấy là không có căn cứ vì vậy không áp dụng khoản 2, điều 46 BLHS cho bị cáo. Mặt khác theo cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS có khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù, song theo điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 quy định khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13. Hội đồng xét xử thấy cần vận dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 là có lợi cho bị cáo khi lượng hình.

Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù giam, với bị cáo lẽ ra cần phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của BLHS. Song xét bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, mục đích phạm tội không có tính tư lợi nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Số Heroine còn lại là chất ma tuý Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng do vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

Liên quan trong vụ án còn có: Người chỉ nhà cho bị cáo mua ma túy, người đã bán ma túy cho bị cáo và ngôi nhà, quá trình điều tra, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, và không nhớ ngôi nhà đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nên tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lô Đình Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng khoản 1, Điều 194; Điều 33; điểm p, khoản 1, Điều 46; Điều 41 BLHS; Điều 76; Điều 228 BLTTHS; khoản 3, Điều 7; điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Luật số 12/2017/QH 14 sửa đổi một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt: Lô Đình Ng 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/5/2017. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 22/9/2017 để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo biên bản bàn giao giữa Công an thị xã T S với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh ngày 29/8/2017.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


55
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về