Bản án 304/2017/HSST ngày 21/11/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 304/2017/HSST NGÀY 21/11/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 21 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 328/2017/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2017/HSST-QĐ ngày 06/11/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số 65/66/10/1, đường N, khu phố H, phường L X, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1953; bị cáo có 01 chị ruột, sinh năm 1983; tiền sự: Không; tiền án:

- Ngày 13/3/2009, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 76/2009/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2011;

- Ngày 24/8/2012, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 230/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 01/02/2016;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/7/2017, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Phùng Th, sinh năm 1989; thường trú: Xóm M, xã X S, huyện Đ L, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Số 1/26, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Hữu S, sinh năm 1982; thường trú: Xóm C, xã D L, huyện D Ch, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Khu phố T Ph 1, phường T B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Thắng L, sinh năm 1995; thường trú: Số 16A/26, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1980; thường trú: Khu phố B Đ 3, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh Đ là đối tượng sử dụng chất ma túy. Đầu tháng 7/2017, Đ bắt đầu mua ma túy về để chia nhỏ ra bán cho các đối tượng nghiện nhằm thu lợi và có ma túy sử dụng. Hình thức mua bán là Đ sử dụng số điện thoại có sim số 0981.317.277 để thỏa thuận giá cả, địa điểm và thời gian giao ma túy với các đối tượng nghiện ma túy.

Khoảng 18 giờ ngày 12/7/2017, Đ mượn xe mô tô biển số 37D1-617.95 của người bạn tên là C (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến khu vực gần chợ G V, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch). Mua ma túy xong, Đ mang ma túy về nhà tại địa chỉ số 65/66/10/1, khu phố H, phường L X, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh phân thành 20 gói nhỏ. Sau khi phân xong, Đ lấy 01 gói ma túy ra sử dụng còn 19 gói ma túy còn lại Đ cất vào hộp nhựa singum hiệu Coolair rồi để trên gác chỗ Đ ngủ.

Đến khoảng 12 giờ ngày 13/7/2017, Đ đang đi chơi thì Lê Phùng Th sử dụng điện thoại sim số 0978.352.364 gọi đến điện thoại của Đ sim số 0981.317.277 để hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Th bảo Đ mang ma túy đến phòng trọ của Th tại địa chỉ số 1/26, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Lúc này Đ về nhà lấy 02 gói ma túy rồi điều khiển xe mô tô biển số 37D1-617.95 đến bán ma túy cho Th.

Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, khi Đ điều khiển xe mô tô 37D1-617.95 đến trước số nhà 6/26, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường A B kiểm tra, phát hiện 02 gói ma túy được gắn trên tay cầm xe mô tô của Đ nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy; 01 xe mô tô biển số 37D1-617.95.

Tiến hành khám xét nơi ở của Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An phát hiện và thu giữ: 17 gói ma túy được cất giấu trong 01 hộp nhựa singum hiệu Coolair để trên nóc tủ quần áo; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 cây kéo inox; 03 bịch nylon dạng miệng kéo dính chưa qua sử dụng; 01 cuộn băng keo màu đen.

Quá trình điều tra xác định, Đ khai nhận đã bán ma túy cho Lê Phùng Th và Nguyễn Hữu S, cụ thể như sau:

- Đ đã 02 lần bán ma túy cho Lê Phùng Th, cụ thể:

+ Lần thứ nhất vào ngày 10/7/2017, Đ bán cho Th 01 gói ma túy giá 200.000 đồng tại Ngã tư giày da Th B, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương.

+ Lần thứ hai vào ngày 12/7/2017, Đ bán cho Th 01 gói ma túy giá 200.000 đồng tại Ngã tư giày da Th B, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương.

- Đ đã bán cho Nguyễn Hữu S 01 gói ma túy giá 100.000 đồng vào ngày 12/7/2017 tại trước quán cà phê “Anh và Em” thuộc khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương.

Căn cứ kết luận giám định số 333/MT-PC54 ngày 19/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 02 gói nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng có trọng lượng 0,1084 gam, có thành phần heroin, hàm lượng 29,17%. Trọng lượng heroin trong 0,1084 gam mẫu là 0,0316 gam.

Căn cứ kết luận giám định số 334/MT-PC54 ngày 19/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 17 gói nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng có trọng lượng 0,8010 gam, có thành phần heroin, hàm lượng 31,92%. Trọng lượng heroin trong 0,8010 gam mẫu là 0,2557 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định số 333/MT-PC54 ngày 19/7/2017 và số 334/MT-PC54 ngày 19/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Đ, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với Lê Phùng Th và Nguyễn Hữu S là người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 21 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và thông báo về địa phương để quản lý, giáo dục.

Cáo trạng số 311/QĐ– KSĐT ngày 30 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

Về xử vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thư niêm phong số 333/MT-PC54 ngày 19/7/2017 và số 334/MT-PC54 ngày 19/7/2017 bên trong chứa heroin, tổng trọng lượng sau giám định là 0,5984g; 01 (hai) sim số 0981.317.277; 01 (một) bộ sử dụng ma túy; 01 (một) hộp nhựa singum hiệu Coolair; 02 (hai) cây kéo innox; 03(ba) bịch nylong dạng miệng kéo dính chưa qua sử dụng và 01 (một) cuộn băng keo màu đen.

- Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen - hồng nhạt, số IMEI 356071/01/937749/9.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 37D1-617.95, Đ khai là mượn từ một người bạn tên C (không rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành đăng báo nhưng không có người đến liên hệ làm việc. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Khoảng 18 giờ ngày 12/7/2017, Nguyễn Minh Đ mượn xe mô tô biển số 37D1-617.95 của người bạn tên là C (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến khu vực gần chợ G V, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng của một người phụ nữ (không rõ  nhân thân, lai lịch). Mua ma túy xong, Đ mang ma túy về nhà tại địa chỉ số 65/66/10/1, khu phố H, phường L X, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh phân thành 20 gói nhỏ. Sau khi phân ma túy Đ lấy 01 gói ma túy ra sử dụng còn 19 gói còn lại Đ cất vào hộp nhựa singum hiệu Coolair rồi để trên gác chỗ Đ ngủ.

Đến khoảng 12 giờ ngày 13/7/2017, Đ đang đi chơi thì Lê Phùng Th sử dụng điện thoại sim số 0978.352.364 gọi đến điện thoại của Đ sim số 0981.317.277 để hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Th bảo Đ mang ma túy đến phòng trọ của Th tại địa chỉ số 1/26, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Lúc này Đ về nhà lấy 02 gói ma túy rồi điều khiển xe mô tô biển số 37D1-617.95 đến bán ma túy cho Th.

Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, khi Đ điều khiển xe mô tô 37D1-617.95 đến trước số nhà 6/26, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường A B kiểm tra, phát hiện 02 gói ma túy được gắn trên tay cầm xe mô tô của Đ nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra xác định, Đ khai nhận đã bán ma túy cho Lê Phùng Th và Nguyễn Hữu S, cụ thể như sau:

- Đức đã 02 lần bán ma túy cho Lê Phùng Th:

+ Lần thứ nhất vào ngày 10/7/2017, Đ bán cho Th 01 gói ma túy giá 200.000 đồng tại Ngã tư giày da Th B, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương.

+ Lần thứ hai vào ngày 12/7/2017, Đ bán cho Th 01 gói ma túy giá 200.000 đồng tại Ngã tư giày da Th B, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương.

- Đức đã bán cho Nguyễn Hữu S 01 gói ma túy giá 100.000 đồng vào ngày 12/7/2017 tại trước quán cà phê “Anh và Em” thuộc khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương.

Căn cứ kết luận giám định số 333/MT-PC54 ngày 19/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 02 (hai)  gói nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng có trọng lượng 0,1084 gam, có thành phần heroin, hàm lượng 29,17%.

Trọng lượng heroin trong 0,1084 gam mẫu là 0,0316 gam.

Căn cứ kết luận giám định số 334/MT-PC54 ngày 19/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 17 (mười bảy) gói nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng có trọng lượng 0,8010 gam, có thành phần heroin, hàm lượng 31,92%. Trọng lượng heroin trong 0,8010 gam mẫu là 0,2557 gam.

Bị cáo Nguyễn Minh Đ bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 76/2009/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2011 và 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 230/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 01/02/2016, chưa được xóa án, bị cáo lại tiếp phạm rất nghiêm trọng nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại khoản 2 Điều 49 và điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự thì “Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lầnc) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn

...

p) Tái phạm nguy hiểm”

Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Minh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội nhiều lần” và “Tái phạm nguy hiểm”.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị cáo, ngươi làm chứng trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, Cáo trạng số 311/QĐ-KSĐT ngày 30 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tình tiết trên được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử, không có nghề nghiệp và là người sử dụng ma túy. Tuy nhiên, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Đ, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Phùng Th và Nguyễn Hữu S là người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/CP ngày 12/11/2013  của Chính phủ và thông báo về địa phương để quản lý, giáo dục.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Xét 02 (hai) bì thư niêm phong số 333/MT-PC54 ngày 19/7/2017 và số 334/MT-PC54 ngày 19/7/2017 bên trong chứa heroin, tổng trọng lượng sau giám định là 0,5984g; 01 (hai) sim số 0981.317.277; 01 (một) bộ sử dụng ma túy; 01 (một) hộp nhựa singum hiệu Coolair; 02 (hai) cây kéo innox; 03(ba) bịch nylong dạng miệng kéo dính chưa qua sử dụng và 01 (một) cuộn băng keo màu đen vì sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen  –  hồng nhạt, số IMEI 356071/01/937749/9 và 1 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 37D1-617.95, SK:RLCS5C6J0-EY088446, SM: 5C6J-A88445 (xe không bửng, không chiếu hậu) vì sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, mức hình phạt và xử lý vật chứng. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự và khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thư niêm phong số 333/MT-PC54 ngày 19/07/2017 và số 334/MT-PC54 ngày 19/7/2017 bên trong chứa heroin, tổng trọng lượng sau giám định là 0,5984g; 01 (hai) sim số 0981.317.277; 01 (một) bộ sử dụng ma túy; 01 (một) hộp nhựa singum hiệu Coolair; 02 (hai) cây kéo innox; 03(ba) bịch nylong dạng miệng kéo dính chưa qua sử dụng và 01 (một) cuộn băng keo màu đen.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen - hồng nhạt, số IMEI 356071/01/937749/9 và 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 37D1-617.95, SK: RLCS5C6J0-EY088446, SM: 5C6J-A88445 (xe không bửng, không chiếu hậu).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/11/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Minh Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghin) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


117
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về