Bản án 302/2017/HSST ngày 18/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 302/2017/HSST NGÀY 18/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Mở phiên tòa công khai ngày 18/9/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 296/2017/HSST, ngày 30/8/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên : Trần Trung K, sinh năm 1984

ĐKNKTT: Thôn Q T, xã T H, huyện T L, tỉnh H N.

Nghề nghiệp: Tự do                      Văn hoá:   9/12

Con ông: Trần Đức D, sinh năm 1964

Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1964

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình

Có vợ: Lê Thị H, sinh năm 1984

Có 2 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2017, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17h 30’ ngày 09/6/2017 tổ công tác công an phường Bà Triệu, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 374 đường Điện Biên, phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định phát hiện Trần Trung K điều khiển xe máy BKS 90F1-4682 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trên tay trái K 01 gói ni lông màu hồng bên trong là gói giấy nhỏ chứa chất bột dạng cục màu trắng (K khai là gói heroin) và tạm giữ của K xe máy BKS 90F1 - 4682. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng và đưa K về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Ngày 13/6/2017 Phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Nam Định đã có bản kết luận số 497/GĐKTHS kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại chất ma túy Heroin, có trọng lượng (khối lượng) mẫu 0,126 gam.

Tại cơ quan điều tra, Trần Trung K đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng và khai nhận nguồn gốc gói ma túy trên như sau: Khoảng 17h ngày 09/6/2017 K mượn xe máy của chú đi từ nhà đến một ngõ nhỏ ở đường Phan Bội Châu, thành phố Nam Định mua của nam thanh niên 01 gói ma túy với giá 100.000đ cầm trên tay trái rồi điều khiển xe về thì bị phát hiện bắt giữ.

Cáo trạng số 308/QĐ-KSĐT, ngày 29/8/2017 Viện kiểm sát (VKS) nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự (BLHS)

Tại phiên tòa đại diện VKS giữ nguyên nội dung quyết truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Nghị quyết số 41/2017/QH14.

Xử phạt bị cáo Trần Trung K từ 18 đến 21 tháng tù. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Đề nghị HĐXX áp dụng điều 41 BLHS và điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) xử lý số vật chứng đã thu giữ.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe bị cáo khai báo, nghe ý kiến của VKS.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 497/GĐKTHS ngày 13/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 17h 30’ ngày 09/6/2017 tại khu vực trước cửa số nhà 374 đường Điện Biên, phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định, Trần Trung K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,126 gam heroin thì bị bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại CQĐT cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo HĐXX áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội để áp dụng tất cả những tình tiết có lợi cho các bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân không nhằm kiếm lời bất chính nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: số Heroin đã thu giữ là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Trần Trung K tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau. Chiếc xe máy BKS 90F1 - 4682 tạm giữ của Trần Trung K, xét không liên quan đến vụ án, nên cơ quan cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H.

[6] Án phí HSST: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Trung K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng  khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.

- Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt bị cáo Trần Trung K 18 (mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2017.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu hủy số Heroin đã thu giữ có trong phong bì niêm phong số 497/GĐKTHS (biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2017)

3. Án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Trung K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./


55
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về