Bản án 30/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 30/2020/HS-ST NGÀY 24/12/2020 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 24 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2020.

- Bị cáo Lù Văn B(tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 6 năm 1996 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tổ 11, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa:06/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Không xác định được bố của bị cáo, con bà Lù Thị T; Bị cáo có vợ là Lò Thị X và có 01 con sinh năm 2016; Tiền án: Có 02 tiền án:Năm 2017, bị TAND thành phố Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, năm 2018 bị TAND thành phố Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 9 năm 2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Lèo Thị Thúy V. Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã B, huyện M, tỉnh Sơn La. Chỗ ở hiện nay: Tổ 2, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án dược tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 10/9/2020, sau khi ăn cơm, uống rượu, Lù Văn B điều khiển xe mô tô BKS 26K1 - 0361 đi từ nhà ở tổ 11, phường C, thành phố S đến khu vực cổng trường Đại học Tây bắc thuộc tổ 2, phường T, thấy chị Lèo Thị Thúy V sinh năm 1999, nơi đăng ký HKTT: Bản P, xã B, huyện M (là sinh viên trường Đại học Tây Bắc) vai trái đeo một chiếc túi xách màu hồng đang đi bộ một mình về phía cổng trường, B nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc túi xách và tài sản trong túi của chị V để bán lấy tiền chi tiêu. Sau đó, B thực hiện ngay ý định bằng hành vi: Tăng ga cho xe chạy nhanh áp sát chị V, dùng tay trái túm vào dây đeo, giật mạnh chiếc túi xách của chị V rồi điều khiển xe bỏ chạy, nhưng bị chị V giằng lại chiếc túi làm cho xe và cả hai người ngã ra đường, đồng thời chị V hô “cướp cướp”, lúc này tổ công tác Công an phường Q đang làm nhiệm vụ trong khu vực đã phát hiện chạy đến. Thấy có Công an tới B bỏ chiếc túi ra rồi dắt xe máy bỏ chạy thì bị tổ công tác Công an phường Quyết Tâm cùng người dân bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

+ 01 chiếc túi xách màu hồng có quai đeo, bên trong có: số tiền 4.870.000d (Bốn triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng);01 chiếc ví da có mặt bên ngoài màu xám có in dòng chữ GD, mặt bên trong màu đen; 01 cục sạc pin dự phòng nhãn hiệu Xmobile loại 10000mAh; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lèo Thị Thúy V.

+ 01 xe máy BKS 26K1 - 0361, có số khung BKVDCGOLKV 300051: không rõ số máy, xe đã qua sử dụng.

+ 01 chiếc đèn pin màu đỏ có dán tem in dòng chữ MANILA.

Ngày 11/9/2020, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố khám nghiệm hiện trường, phương tiện xe mô tô đã cũ, không rõ nhãn hiệu, BKS 26K1-0361, loại xe động cơ có dung tích 110cc, kết quả: Tại hiện trường trên nền đường, bờ tường vị trí xảy ra vụ việc phát hiện nhiều vết trầy xước, trùi trượt; chiếc xe mô tô thu giữ xác định là loại xe động cơ xăng có dung tích xi lanh 100cc, nhãn hiệu PUSAN, phía bên trái thân xe có nhiều vết trầy xước, trùi trượt.

Xem xét dấu vết thân thể của chị Lèo Thị Thúy V ngày 11/9/2020, kết quả: Tại đầu gối chân phải có 01 vết trầy xước không chảy máu kích thước 2,5 x l,5cm: Tại đầu gối chân trái có 01 vết trầy xước không chảy máu kích thước 4 x l,5cm; Tại lòng bàn tay bên phải có một vết trầy xước kích thước 1,5 x1cm; Tại vai bên phải có 01 vết trầy xước kích thước 2 x1,8cm.

Xét dấu vết thân thể của Lù Văn B ngày 11/9/2020, kết quả: Tại vị trí đầu gối chân phải có nhiều vết trầy xước, rách da diện 07 x2,5cm.

Ngày 14/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La ra Quyết định trưng cầu giám định số 2259, 2260/QĐ-ĐTTH trưng cầu giám định tỷ lệ % thương tích của chị Lèo Thị Thúy V và giám định số tiền 4.870.000đ là tiền thật hay tiền giả. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 221/TgT ngày 21/9/2020 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Sơn La, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01 % (Một phần trăm)" và tại bản kết luận giám định số 1491 ngày 18/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Số tiền 4.870.000đ gửi giảm định là tiền thật".

Ngày 13/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La ra Yêu cầu định giá tài sản. Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 15/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - ủy ban nhân dân thành phố Sơn La, kết luận: 01 chiếc túi xách màu hồng có quai đeo, mua mới và sử dụng từ tháng 9/2019, giá trị còn lại là 190.000đ; 01 chiếc ví da màu xám, mua mới và sử dụng từ tháng 9/2019, giá trị còn lại là 90.000đ và 01 cục sạc pin dự phòng nhãn hiệu Xmobile loại 10000mAh, mua và sử dụng từ tháng 5/2019, giá trị còn lại là 50.000đ. Tổng trị giá tài sản còn lại là 330.000đ (Ba trăm ba mươi nghìn đồng). Ngày 29/9/2020, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Sơn La đã trả các tài sản trên và số tiền 4.870.000đ cho chị Lèo Thị Thúy V quản lý, sử dụng.

Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 26K1-0361, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Lù Thị T, sinh năm 1971, trú tại tổ 11, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (là mẹ của bị cáo B), bà T không biết việc B sử dụng xe để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 07/10/2020, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Sơn La đã trả chiếc xe trên cho bà T quản lý, sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lèo Thị Thúy V không yêu cầu bị cáo bồi thường, đã nhận lại đủ số tài sản và không có khiếu nại khác.

Bản cáo trạng số 224/CT-VKSTP ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Lù Văn B về tội Cướp giật tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

1.Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lù Văn B từ 40 (bốn mươi) đến bốn 46 (bốn mươi sáu) tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Không phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc đèn pin màu đỏ đã qua sử dụng.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lèo Thị Thúy V 01 chiếc túi xách màu hồng và các tài sản bên trong túi xách.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra trả lại cho bà Lù Thị T 01 chiếc xe mô tô BKS 26K1 – 0361.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lèo Thị Thúy V không yêu cầu bị cáo bồi thường.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quan lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thầm.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không yêu cầu bồi thường thêm.

Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, không có yêu cầu về hình phạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về quá trình tiến hành tố tụng:Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi. quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà, Lù Văn B khai nhận toàn bộ hành vi. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người liên quan, người chứng kiến; các vật chứng đã thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, ban ảnh hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra. Do vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Vào khoảng 23 giờ ngày 10/9/2020, tại khu vực cổng trường Đại học Tây Bắc thuộc tổ 2, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La, Lù Văn B điều khiển xe mô tô BKS 26K1-0361 đi nhanh áp sát và dùng một tay giật 01 chiếc túi xách bên trong có 4.870.000đ và một số tài sản trị giá 330.000đ; tổng trị giá tài sản là 5.200.000d (Năm triệu hai trăm nghìn đồng)của chị Lèo Thị Thúy V sinh năm 1999 (là sinh viên trường Đại học Tây Bắc), nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy làm cho chị V bị ngã thiệt hại 01% sức khỏe khi giằng giữ lại tài sản.Mặc dù chưa chiếm đoạt được tài sản, xác định nhưng hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã phạm tội cướp giật tài sản, trường hợp rất nghiêm trọng quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại T tục phạm tội mới. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự: Bị cáo không có tài sản, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, điều kiện kinh tế của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lèo Thị Thúy V không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc đèn pin thu giữ của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn B phạm tội Cướp giật tài sản. Xử phạt Lù Văn B 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/9/2020. Không phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc đèn pin màu đỏ dán tem in dòng chữ “MANILA”, không còn giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/11/2020 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Ván phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lù Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:30/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về