Bản án 30/2020/HNGĐ-ST ngày 19/11/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 30/2020/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

 Trong ngày 19 tháng 11 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, T phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2020/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2020 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2020/QĐST-HPT ngày 30 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phan Thị Giao T, Sinh năm: 1992.

Nơi cư trú: K31/12 Đường T, Tổ 02 phường K, quận N, T phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn T. Sinh năm: 1987.

Nơi cư trú: Phòng 401 Chung cư 12T1, Đường T, phường N, quận S, T phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị Giao T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà xây dựng gia đình với ông Trần Văn T vào năm 2015, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường N, quận S, T phố Đà Nẵng.

Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do quan điểm sống tính tình vợ chồng không hợp nhau, ông T không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn thường ham chơi bài bạc, số đề, gây nợ nần nhiều lần giang hồ đến nhà đòi nợ. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T vẫn không thay đổi, tiếp tục tái diễn. Mâu thuẩn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Do mâu thuẩn vợ chồng xảy ra nên bà và ông T sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai có trách nhiệm gì với nhau. Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả, vì vậy bà xin được ly hôn với ông Trần Văn T.

- Về nuôi con chung: Bà Phan Thị Giao T xác định có 01 con chung là Trần Thị Thủy T, sinh ngày: 19/10/2016. Tại phiên tòa bà có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Phan Thị Giao T xác định không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Bà Phan Thị Giao T xác định không có nợ chung.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn ông Trần Văn T đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án ly hôn nhưng ông Trần Văn T không đến Tòa án nên không ghi được lời trình bày.

* Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phan Thị Giao T đối với ông Trần Văn T. Đề nghị HĐXX xử cho bà Phan Thị Giao T được ly hôn với ông Trần Văn T.

- Về con chung: Đề nghị hội đồng xét xử giao con chung là Trần Thị Thủy T, sinh ngày: 19/10/2016 cho bà Phan Thị Giao T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trần Văn T không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phan Thị Giao T xác định không có. Ông Trần Văn T không có lời khai nên không xác định tài sản chung và nợ chung, do đó không đề cập đến. Nếu sau này có tranh chấp thì ông Trần Văn T, bà Phan Thị Giao T có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Trước khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện thì bị đơn ông Trần Văn T đang cư trú tại Phòng 401 Chung cư 12T1, Đường T, phường N, quận S, T phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Trần Văn T nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Trần Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét vử vắng mặt bị đơn ông Trần Văn T.

Về nội dung vụ án:

[3] Bà Phan Thị Giao T và ông Trần Văn T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2015, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường N, quận S, Tp Đà Nẵng. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không lo làm ăn, thường đánh bài bạc, số đề, không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả, xích mích, nói năng không tôn trọng nhau. Bà T đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T vẫn không thay đổi, tiếp tục tái diễn. Mâu thuẩn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai có trách nhiệm gì với nhau. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà bà Phan Thị Giao T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không còn khả năng hàn gắn được nữa nên nguyện vọng của bà xin được ly hôn ông Trần Văn T. Còn bị đơn ông Trần Văn T mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông vắng mặt không có lý do.

[5] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ ông Trần Văn T nhiều lần để hoà giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông T không chấp hành. Điều này thể hiện ông T vừa coi thường pháp luật, vừa thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, bản thân ông T không còn thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình với bà T nữa, mặt khác mâu thuẩn vợ chồng mà bà T trình bày cũng phù hợp với các thông tin mà chính quyền địa phương nơi ông, bà đang cư trú cung cấp. Điều đó chứng tỏ mâu thuẩn vợ chồng ông, bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà T là phù hợp.

[6] Về nuôi con chung: Con chung giữa bà Phan Thị Giao T và ông Trần Văn T có 01 người: Trần Thị Thủy T, sinh ngày: 19/10/2016. Tại phiên toà bà Phan Thị Giao T có nguyện vọng xin được nuôi con chung và không yêu cầu ông Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.

[7] Xét yêu cầu của bà T về việc xin được nuôi con chung thì thấy hiện nay con chung đang được bà T trực tiếp nuôi dưỡng và phát triển tốt vì vậy HĐXX thấy rằng không cần thiết phải xáo trộn cuộc sống của con mà nên tiếp tục giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với cuộc sống hiện tại của con cũng như phù hợp với các quy định của pháp luật.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.

[8] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Văn T vắng mặt không ghi được lời khai nên không xác định được khối tài sản chung và nợ chung của vợ chồng là có hay không, do đó HĐXX thấy cần phải tách phần tài sản chung và nợ chung không giải quyết. Nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì Toà án có thẩm quyền sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[9] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đồng bà Phan Thị Giao T phải chịu theo quy định của pháp luật.

[10] Đối với ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng thấy phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

 QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Phan Thị Giao T đối với ông Trần Văn T.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị Giao T được ly hôn với ông Trần Văn T.

2. Về quan hệ con chung:

Giao con chung Trần Thị Thủy T, sinh ngày: 19/10/2016 cho bà Phan Thị Giao T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng T đủ 18 tuổi. Ông Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cả hai bên đương sự đều được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000đồng bà Phan Thị Giao T phải chịu. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng biên lai thu số 06126 ngày 12 tháng 6 năm 2020.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2020/HNGĐ-ST ngày 19/11/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:30/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về