Bản án 30/2018/HSST ngày 02/10/2018 về tội buôn bán hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 30/2018/HSST NGÀY 02/10/2018 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 02 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2018/HSST ngày06/9/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2018/HSST- QĐ đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 03/6/2001;

Tên gọi khác: Không có

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn C, xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Bố đẻ: Nguyễn Hữu A, sinh năm 1971; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H - sinh năm 1975; Đều trú tại thôn C, xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông Nguyễn Hữu A, sinh năm 1971 (có mặt).

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Đều cư trú tại thôn C, xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu A, sinh năm1971 (có mặt).

Nơi cư trú: thôn C, xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các cài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/01/2018, Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 03/6/2001 ở thôn C, xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang sử dụng tài khoản “Tìm em trong mơ” trên mạng xã hội Facebook đăng bán pháo, sau đó đến buổi chiều thì có Nick name “H cá rô” nhắn tin hỏi mua pháo, Đ đã nhắn tin cho Nick name “H cá rô” số điện thoại 0962227602 của mình để “H cá rô” liên lạc. Sau đó có một người thanh niên dùng số điện thoại 01253108688 gọi điện vào số máy 0962227602 của Đ giới thiệu tên là H hỏi mua pháo. Đ đồng ý bán 03 bệ pháo loại 36 ống với giá 400.000 đồng/ 1 bệ và hẹn đến ngày 05/01/2018 sẽ giao nhận pháo tại thôn T, xã Nh, huyện T và H bảo Đ cứ mang thêm 02 bệ nữa để H mua thêm. Đến khoảng 14 giờ ngày 05/01/2018, Đ đem 05 bệ pháo cho vào một chiếc ba lô màu đen rồi tự ý lấy và điều khiển xe mô tô Honda Super Cup, biển kiểm soát 13-302-IL của bố đẻ là Nguyễn Hữu A, sinh năm 1971 chở ba lô đựng 05 bệ pháo đi từ nhà mình đến thôn T, xã Nh, huyện T để gặp H như đã hẹn. Khi Đ điều khiển xe mô tô chở pháo đến thôn T, xã Nh, huyện T, Nguyễn Hữu Đ chỉ nhìn thấy H nhưng chưa kịp bán pháo thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:05 khối hộp vỏ ngoài bọc giấy màu, bên ngoài có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hình hộp gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy liên kết với nhau, nghi là pháo. Tổng trọng lượng 7,4 kg.01 xe mô tô Honda Super Cup, BKS 13-302- IL.01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia, màu trắng, Imei 351832063399712 đã qua sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 163/C54-P2 ngày 09/01/2018 Viện khoa học hình sự kết luận: Mẫu vật gửi đến giám định đều là pháo hoa, có chứa thuốc pháo, khi đốt phát ra tiếng nổ. Khối lượng là 7,5kg.

Tại công văn số 236/C54-P2 ngày 21/3/2018 Viện khoa học hình sự giải thích Kết luận giám định số 163/C54-P2 ngày 09/01/2018 như sau: Căn cứ theo Công văn số 275/C41-C44, ngày 01 tháng 02 năm 2018 về việc hướng dẫn điều tra, xử lý pháo nổ, pháo hoa của Tổng cục Cảnh sát – Bộ công an thì các mẫu vật gửi giám định trong các Kết luận giám định trên đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ).

Ngày 02/5/2018 CQĐT quyết định trưng cầu giám định lại mẫu vật gửi đến giám định có phải là pháo nổ hoặc pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ) không?

Tại kết luận giám định số 2393/C54-P2 ngày 29/5/2018 Viện khoa học hình sự kết luận: Các mẫu vật gửi đến giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ).

Quá trình điều tra Nguyễn Hữu Đ thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Về nguồn gốc 05 bệ pháo Đ đem bán bị bắt quả tang do Đ trực tiếp đến Chợ T, tỉnh L mua của một người không quen biết với giá 350.000 đồng/05 bệ vào khoảng tháng 6 năm 2017, sau đó Đ đem về nhà cất giấu tại ngôi nhà bỏ hoang trước cửa nhà của mình mục đích để bán lại kiếm lời.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2018, của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi buôn bán hàng cấm của mình, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với Nguyễn Hữu Đ về tội “buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 12 tháng đến 14 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu Đ tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang, truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo.

Người đại diện cho bị cáo nhất trí với ý kiến của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tung tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay bị cáo dưới 18 tuổi, Tòa án đã chỉ định Luật sư Nguyễn Đình H – Văn phòng Luật sư Nguyễn Đình H bào chữa cho bị cáo, nhưng tại phiên tòa bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị cáo từ chối Luật sư bào chữa. Do đó HĐXX không đưa ông H vào tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị cáo.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện cho bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh, ngày 05/01/2018, Nguyễn Hữu Đ có hành vi chở 05 bệ pháo đến thôn T, xã Nh, huyện T với mục đích để bán kiểm lời. Tại các kết luận giám định thể hiện, toàn bộ số pháo trên đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ) và có tổng khối lượng là 7,5 kg. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, của các tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, HĐXX cần cân nhắc, xem xét một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Nhưng bị cáo chưa từng bị kết án, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, cụ thể và rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Mặt khác, khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, khả năng nhận thức của bị cáo còn hạn chế, để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho bị cáo và nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo.

Bị cáo phạm tội dưới 18 tuổi, theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự thì không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với người đàn ông có tên H dùng số điện thoại 01253.108.688 liên lạc mua pháo của Đ trong ngày 02 và 05/01/2018, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín đối với số thuê bao trên. Kết quả xác định chủ thuê bao là chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 ở Đội M, xã Th, huyện H, tỉnh Th. Tuy nhiên làm việc với chị T khẳng định không dùng số thuê bao trên và cũng không cho ai mượn chứng minh nhân dân để đăng ký thông tin thuê bao và Kết quả cung cấp thông tin của Trung tâm công nghệ thông tin – Viễn thông Bắc Giang xác định đây là thuê bao trả trước nên không có thông tin cuộc gọi và tin nhắn. Do không xác định được người dùng thuê bao 01253.108.688 liên lạc mua pháo với Đ là ai nên Cơ quan điều tra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến người có tên H ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục điều tra và xử lý sau, là phù hợp.

[7] Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô Honda Super Cup, BKS 13-302- IL, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Hữu A, sinh năm 1971 ở thôn C xã Ph huyện T (ông A là bố đẻ của Nguyễn Hữu Đ). Ngày 05/01/2018 Đ tự ý lấy xe mô tô của gia đình đem pháo đi bán ông A và gia đình không ai biết và tại phiên tòa hôm nay ông A có yêu cầu được nhận lại chiếc xe trên nên cần trả lại cho anh A chiếc xe mô tô trên

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia, màu trắng, Imei 351832063399712 đã qua sử dụng. Đây là điện thoại của Nguyễn Hữu Đ dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[8] Về vật chứng: Đối với 4,4 kg pháo, 01 thùng cát tông được niêm phong và 01chiếc ba lô mầu đen, là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[10] Bị cáo, người đại diện của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luậ t tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 12 tháng tù. Nhưng cho bị cáo được huởng án treo; thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/10/2018. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 4,4 kg pháo, 01 thùng cát tông được niêm phong và 01 ba lô mầu đen.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia, màu trắng, Imei 351832063399712.

Trả lại cho ông Nguyễn Hữu A 01 chiếc xe mô tô Honda Super Cup, BKS 13-302- IL.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện cho bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


78
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2018/HSST ngày 02/10/2018 về tội buôn bán hàng cấm

Số hiệu:30/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 02/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về