Bản án 30/2017/HSST ngày 11/09/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 30/2017/HSST NGÀY 11/09/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hồi 14 giờ 10 phút, ngày 11 tháng 9 năm 2017. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Vương Ánh T - Giới tính: Nữ. 

Sinh ngày 10/11/1984, tại Huyện V, tỉnh L.

ĐKHKTT: Xã M, huyện V, tỉnh L.

Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12. Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Con ông: Vương Đình P, sinh năm 1948; Con bà: La Thị M, sinh năm 1950.Hiện đều trú tại xã C, huyện V, tỉnh L. Gia đình có 05 anh, chị em bị cáo là con thứ năm.

Chồng: Dương Văn H, sinh năm 1981, bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015, hiện đều trú tại xã M, Huyện V, tỉnh L.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2016 đến ngày 11/6/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Vương Ánh T, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 17 giờ 15 phút ngày 08/6/2017, tổ công tác Công an huyện Văn Bàn đang làm nhiệm vụ tại khu vực xã M, phát hiện và bắt quả tang tại nhà Vương Ánh T, sinh năm 1984, trú tại xã M, huyện V đang bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Đình Th, sinh năm 1987, trú tại xã K, huyện V. Thu giữ trên tay trái của Th 01 gói giấy mầu trắng bên trong là lớp nilon mầu xanh bọc chất bột khô, mầu trắng, vón cục, Th khai là ma túy vừa mua của T. Th tự giác giao nộp 90.000đ và khai là tiền thừa do T trả lại khi mua 01 gói ma túy và 01 chai nước ngọt. Vương Ánh T tự giác giao nộp 200.000đ và khai là tiền vừa bán 01 gói ma túy, 01 chai nước ngọt cho Th mà có. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng. Tiến hành khám xét khẩn cấp đồ vật, chỗ ở đối với Vương Ánh T phát hiện thu giữ 04 gói nilon mầu trắng, bên trong chứa chất nhựa dẻo mầu nâu đen để trong lọ sứ ở góc nhà bên phải theo hướng từ ngoài vào, T khai đó là thuốc phiện của T.

Về nguồn gốc ma túy Vương Ánh T khai nhận: khoảng 16  giờ  ngày 07/6/2017, T mua của một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi tại nhà T 01 gói ma túy gói bằng nilon mầu xanh và 04 gói thuốc phiện gói bằng nilon mầu trắng với giá 150.000đ. Mục đích để bán kiếm lời. T cất 04 gói thuốc phiện vào trong lọ sứ để ở góc nhà, còn 01 gói nilon mầu xanh dùng giấy trắng bọc bên ngoài để trong tủ kính bán hàng. Đến khoảng 17 giờ ngày 08/6/2017 có Hoàng Đình Th đến nhà, gặp T, Th hỏi “Chị có hàng không bán cho em 200.000đ”. T hiểu hàng là ma túy nên trả lời “Chỉ có 100.000đ”, Th đưa cho T 200.000đ, đồng thời hỏi mua thêm 01 chai nước ngọt để uống, T cầm tiền và lấy từ trong tủ kính bán hàng ra gói ma túy gói bằng giấy trắng bên trong là lớp nilon mầu xanh đưa cho Th và trả lại90.000đ tiền thừa. Ngay lúc đó Công an huyện Văn Bàn ập vào bắt quả tang.

Tại kết luận giám định số: 129/GĐMT ngày 10/6/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Bì 1: 0,05 gam chất bột khô, mầu trắng, vón cục thu giữ của Hoàng Đình Th là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin); Bì 2: 6,50 gam chất nhựa dẻo, mầu nâu đen thu giữ của Vương Ánh T là Thuốc phiện.

Tại bản cáo trạng số: 33/KSĐT ngày 16/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn quyết định truy tố bị cáo Vương Ánh T ra trước Toà án nhân dân huyện Văn Bàn, để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, qua thẩm vấn làm rõ đã nêu quan điểm luận tội và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vương Ánh T, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009. Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt Vương Ánh T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù và phạt tiền từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ sung công quỹ nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 4,0 gam Thuốc phiện còn lại sau giám định đã thu giữ của Vương Ánh T. Tịch thu xung công quỹ nhà nước của bị cáo Vương Ánh T 100.000đ tiền do phạm tội mà có. Tạm giữ của bị cáo Vương Ánh T 100.000đ để đảm bảo thi hành án.

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vương Ánh T khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 07/6/2017, bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết tại nhà mình 01 gói ma túy gói bằng nilon mầu xanh và 04 gói thuốc phiện gói bằng nilon mầu trắng với giá 150.000đ, mục đích để bán kiếm lời. Mua được ma túy bị cáo cất 04 gói thuốc phiện vào trong lọ sứ để ở góc nhà, còn 01 gói nilon mầu xanh dùng giấy trắng bọc bên ngoài để trong tủ kính bán hàng. Đến khoảng 17 giờ ngày 08/6/2017 bị cáo bán cho Hoàng Đình Th 01 gói ma túy thì bị bắt quả tang. Công an thu giữ trên tay trái của Th 01 gói ma túy bị cáo vừa bán cho và Th tự giác giao nộp 90.000đ tiền thừa do bị cáo trả lại khi Th mua 01 gói ma túy và 01 chai nước ngọt. Bị cáo tự giác giao nộp 200.000đ là tiền Th đưa trong đó có 100.000đ tiền bán 01 gói ma túy và 10.000đ tiền bán 01 chai nước ngọt. Sau đó cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp đồ vật, chỗ ở của bị cáo phát hiện thu giữ 04 gói thuốc phiện của bị cáo để trong lọ sứ ở góc nhà.

Như vậy lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Bị cáo có hành vi mua bán 0,05 gam Heroine và 6,50 gam thuốc phiện, tuy nhiên tổng khối lượng của hai chất ma túy này thấp hơn khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều 194. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Vương Ánh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn truy tố là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo hiểu rõ ma túy là loại độc dược nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con người. Là phụ nữ đã có gia đình, có sức khỏe nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, lười lao động, hám lời bán ma túy kiếm lời bất chính. Nên xét cần có một hình phạt thật nghiêm khắc và phạt bổ sung một khoản tiền để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Xong tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, có Bố đẻ có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; quy định tại khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 về việc thực hiện quy định có lợi cho người phạm tội, tại khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 không quy định đây là tình tiết giảm nhẹ, nhưng tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 quy định đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt. Nên cần áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho bị cáo. Hiện bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tù và hình phạt bổ sung cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với Hoàng Đình Th ngày 08/6/2017 mua 0,05 gam Heroine của Vương Ánh T với mục đích để sử dụng, khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự cơ quan điều tra đã xử lý hành chính là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vương Ánh T vào ngày 07/6/2017 do chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Về vật chứng: 0,05 gam Heroine thu giữ của Hoàng Đình Th và 6,50 gam Thuốc phiện thu giữ của Vương Ánh T cơ quan điều tra gửi giám định, cơ quan giám định đã trích mẫu để giám định và lưu mẫu một phần, số ma túy còn lại là 4,00 gam Thuốc phiện cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền  200.000đ bị cáo T giao nộp trong đó có 100.000đ là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Số tiền còn lại cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vương Ánh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt  bị  cáo  Vương  Ánh  T 02  (hai) năm 06  (sáu) tháng  tù và phạt 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, khi chấp hành án được trừ đi 03 (ba) ngày đã bị tạm giữ.Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 4,00 gam Thuốc phiện còn lại sau giám định thu giữ của Vương Ánh T được đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên một mặt của bì có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Vương Ánh T có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 08/6/ 2017 tại xã M, huyện V, tỉnh L”. Mặt sau có 02 chữ ký của người tham gia niêm phong và 04 dấu tròn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) tiền do phạm tội mà có đã thu giữ của Vương Ánh T.

- Tạm giữ của bị cáo Vương Ánh T 100.000 (một trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Vương Ánh T phải chịu200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự;thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xét xử công khai sơ thẩm kết thúc hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày 11/9/2017.


92
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về