Bản án 298/2018/HSST ngày 25/12/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃTHUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 298/2018/HSST NGÀY 25/12/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 12 năm 2018, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 298/2018/HSST ngày 06 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2018/QĐXXST- HS ngày 12/12/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Xuân C, sinh năm 1987; nơi ĐKNKTT: Xóm 7, xã D, huyện Tr, tỉnh Th; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Ng, sinh năm 1965 và bà Trần Thị Th, sinh năm 1965 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị X (đã ly hôn); có 1 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/7/2012 bị Công an phường A, thành  phốTh, tỉnh Th xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 01/QĐ- XLVPHC; ngày 14/8/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Th xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 227/2014/HSST; ngày 24/10/2014 đã nộp tiền án phí và ngày 28/4/2016 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/7/2018, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/7/2018, đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã T phối hợp với Công an phường A tuần tra trên đoạn đường

D1, khu phố 4, khu dân cư V, phường A, thị xã T, tỉnh B phát hiện Lê Xuân C đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện C cầm trên tay trái 01 gói giấy bên trong là 01 gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy tổng hợp), lực lượng công an lập biên bản niêm phong tang vật và đưa C về làm việc.

Quá trình làm việc C khai gói ma túy công an thu giữ C mua của một người

(không rõ nhân thân, địa chỉ) với số tiền 300.000đ để sử dụng.

Tang vật thu giữ gồm: 01gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp).

Theo bản kết luận giám định số 463/MT- PC54 ngày 06/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có trọng lượng 0,1916 gam; loại Methamphetamine.

Theo bản cáo trạng số 02/CT-VKSTA ngày 06/12/2018 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Lê Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến gì về nội dung truy tố theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T.

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Xuân C về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng, đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Xuân C mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ghi số vụ 463/PC54 là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thị xã T, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

 [2] Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo Lê Xuân C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh B đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo trước sau thống nhất và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Toà án có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/7/2018, đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã T phối hợp với Công an phường A kiểm tra hành chính đối với Lê Xuân C đang đi bộ trên đoạn đường D1, khu phố 4, khu dân cư V, phường A, thị xã T, tỉnh B và phát hiện C cầm trên tay trái 01 gói giấy bên trong là 01 gói nilon hàn kín chứa tinh thể Methamphetamine, trọng lượng 0,1916 gam. C xác định mua gói ma túy trên của người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch với mục đích về sử dụng.

Hành vi cất giấu ma túy nhằm mục đích sử dụng của Cao Xuân C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

 [3] Hành vi tàng trữ Methamphetamine để sử dụng của bị cáo là nguy hiểm, không những hủy hoại sức khỏe của bản thân, thoái hóa nhân cách, mà còn là điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội và nhiều tội phạm khác. Bị cáo biết Methamphetamin là chất gây nghiện độc hại Nhà nước tuyệt đối cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy và xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa những sai lầm mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

 [4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017.

 [5] Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.

 [6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thư niêm phong ghi số vụ 463/MT- PC54 là mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

 [7] Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án, nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 31/7/2018.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ký hiệu 463/MT- PC54 là mẫu vật sau giám định.  (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/12/2018 giữa Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T).

3. Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Xuân C phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 298/2018/HSST ngày 25/12/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:298/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về