Bản án 297/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY – TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 297/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2017 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2017/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2017,về việc: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Thị H, sinh năm 1993 (Có mặt).

Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Chổ ở hiện nay: Khu phố A, phường 1, thị xã G, tỉnh Tiền Giang

- Bị đơn: Đặng Hữu T, sinh năm 1990 (Có mặt).

Trú tại: ấp T, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn xin ly hôn và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Vào năm 2009, chị H với anh Đặng Hữu T tổ chức lễ cưới, sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Đến năm 2017, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Tháng 6/2017 chị H ly thân anh T cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn; chị H yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị H với anh T có 02 con chung tên là Đặng Hữu N, sinh ngày 12/9/2010 và Đặng Lê Bảo N, sinh ngày 21/12/2012; cháu N1 và cháu N2 đang sống chung với chị H. Chị H yêu cầu được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1 và cháu N2; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị H không yêu cầu gì khác.

* Tại phiên toà, bị đơn anh Đặng Hữu T trình bày:

Vào năm 2009, anh T với chị H tổ chức lễ cưới, sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Đến năm 2017, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Tháng 6/2017, anh T ly thân chị H cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn; anh T đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh T với chị H có 02 con chung tên là Đặng Hữu N, sinh ngày 12/9/2010 và Đặng Lê Bảo N, sinh ngày 21/12/2012; cháu N1 và cháu N2 đang sống chung với chị H. Anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1; giao cháu N2 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. 

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, anh T không yêu cầu gì khác.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xét:

+ Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H với anh T.

+ Về con chung: Giao cháu N1 và cháu N2 cho chị H tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng; Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Theo các tình tiết của vụ án và yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ giữa các bên là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cần được xem xét và giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Xét về hôn nhân: Vào năm 2009, chị H với anh T tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn. Đến năm 2017, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; chị H với anh T đã ly thân từ tháng 6/2017 cho đến nay. Xét thấy tình cảm giữa chị H với anh T đã mâu thuẩn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị H yêu cầu ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; anh T cũng đồng ý ly hôn với chị H. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H với anh T.

[3] Xét về con chung: Chị H với anh T có có 02 con chung tên là Đặng Hữu N, sinh ngày 12/9/2010 và Đặng Lê Bảo N, sinh ngày 21/12/2012. Chị H yêu cầu được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1 và cháu N2. Anh T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1; giao cháu N2 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H với anh T thống nhất thuận tình ly hôn, nên cần giao cháu N1 và cháu N2 cho chị H hoặc anh T nuôi dưỡng. Việc nuôi dưỡng cháu N1 và cháu N2 là nghĩa vụ của chị H và anh T. Tuy nhiên, cháu N1 và cháu N2 sống chung trực tiếp với chị H từ khi được sinh ra và từ khi ly thân anh T cho đến nay. Cho nên để ổn định về mặt tinh thần và điều học tập của các cháu; chị H có điều kiện kinh tế thuận lợi để tiếp tục nuôi con. Mặc khác, cháu N1 có nguyện vọng sống chung trực tiếp với chị H sau khi chị H với anh T ly hôn. Do đó giao cháu N1 và cháu N2 cho chị H tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Xét ý kiến, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Luật thi hành án dân sự.

 Xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị H với anh Đặng Hữu T.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Hữu N, sinh ngày 12/9/2010 và cháu Đặng Lê Bảo N, sinh ngày 21/12/2012 cho chị Lê Thị H tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí:

+ Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo biên lai thu số 38785 ngày 17/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, nên chị H đã nộp án phí.

+ Anh T không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Chị H, anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 297/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:297/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Công Tây - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về