Bản án 296/2017/HSST ngày 23/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

BẢN ÁN 296/2017/HSST NGÀY 23/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23/11/2017 tại tổ 13, 17, 18 phường Ngọc Lâm, quận Long Biên – Hà Nội  xét xử sơ thẩm công  khai  vụ  án  hình  sự thụ  lý  số: 305/2017/HSST ngày 02/11/2017  theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2017/QĐXXST-HS ngày 09/11/2017 đối với bị cáo:

1. NGUYỄN ĐÌNH L - sinh năm: 1985 ; HKTT: Thôn BP – ATh – AL – HP. Chỗ ở trọ: Tổ 17 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, TP Hà Nội. Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình M, sinh năm 1961 và bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1962. Gia đình có hai anh chị em, bị cáo là thứ hai. Vợ là Lê Thị Th; có một con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 502  ngày  18/9/2017 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt ngày 12/9/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố Hà Nội. SG: 4931P1/B04

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị V – SN: 1962 (mẹ đẻ của bị cáo)

HKTT: Thôn BP – ATh – AL – HP (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20h30’ ngày 12/9/2017, tổ công tác công an phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực đầu cầu Long Biên, phường Ngọc Lâm, Long  Biên  Hà  Nội  phát  hiện  Nguyễn  Đình  L  đứng  cạnh  một  chiếc  xe  máy YAMAHA Jupiter, BKS: 16H6 – 2279 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của Long có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có một túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ L tự khai nhận là ma túy đá. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người  phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong tang vật. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Jupiter màu đỏ, BKS 16H6 - 2279

Tại bản kết luận giám định số 5720/PC54 ngày 11/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 1,465gam.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Nguyễn Đình L khai nhận:

Khoảng 19h30’h ngày 12/9/2017, L nhận được điện thoại của Dũng (Không xác định được địa chỉ) rủ L đi sử dụng ma túy. Long đi xe máy ra đường Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, để đón Dũng. Tại đây, Dũng đưa cho L 01 bao thuốc lá Thăng Long, Long mở ra thấy bên trong bao thuốc lá có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, L cất bao thuốc lá vào túi quần bên trái phía trước rồi chở Dũng đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến chân cầu Long Biên, P. Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội, Dũng bảo L dừng xe và hỏi mượn L điện thoại để gọi cho bạn. Trong lúc L đứng chờ Dũng thì bị lực lượng công an đến kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Đình L phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Đình L đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 41; Điều 33 của BLHS. Áp dụng Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH41 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Về hình phạt đề nghị xử phạt Nguyễn Đình L từ 26 tháng đến 28 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 1,465 gam Methamphetamine

Về dân sự: Không

Nói lời sau cùng: Bị cáo biết là sai, vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Xét lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Đình L tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: 20h30 ngày 12/9/2017 tại khu vực đầu cầu Long Biên, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Đình L đã có hành vi Tàng trữ trái phép 1,465 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác công an phường Ngọc Lâm, quận Long Biên bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình L có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS.

Về hình phạt bổ sung như phạt tiền: xét thấy bị cáo nghiện chất ma túy. Không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 1,465 gam Methamphetamine là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, BKS 16H6 – 2279 quá trình điều tra xác định: xe máy trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Vui. Cơ quan điều tra – Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho bà Nguyễn Thị V là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên Dũng đã đưa chất ma túy cho L, do L khai không biết, địa chỉ nên cơ quan điều tra chưa làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46, điều 33 Bộ luật hình sự 1999. Áp dụng Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH41 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

-Xử phạt: Nguyễn Đình L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 12/9/2017.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy 1,462 gam Methamphetamine có tại kho tang vật Công an quận Long Biên theo phiếu nhập vật chứng ngày 21/9/2017.

3. Về dân sự: Không

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo L phải nộp 200.000đ án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, Điều 234 bộ luật Tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


79
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về