Bản án 294/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 294/2018/HS-ST NGÀY 16/10/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số284/2018/TLST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số314/2018/QĐXXST-HS ngày05 tháng10năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Đình Th, sinh năm 1983 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: 215/2A khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ học vấn: Lớp 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Lê Đình T, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1943; vợ Võ Thị Thúy H, sinh năm 1987 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2008; tiền sự: không; tiền án: Ngày 12/5/2015 bị Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 4 năm tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án hình sự số 64/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 10/10/2017; nhân thân: Ngày 24/11/2010 Tòa án nhân dân huyện D(nay là Tòa án nhân dân thị xã D), tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tại bản án hình sự số 296/2010/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/5/2018, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:Anh Hồ Văn Nh, sinh năm 1984; địa chỉ:179/8, KVBình  Yên B, phường Long H, phường Bình Th, Thành phố Cần Thơ. Có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

+Người làm chứng:

1. Nguyễn Hữu Sơn, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Lương Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm T, xã Tam H, huyện Quỳ H, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đình Th là người sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine. Khoảng 14 giờ ngày 29/5/2018, Th sử dụng điện thoại Nokia 1100 có sim số 0901.617.327 gọi điện cho người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.200.000 đồng, Thông hẹn gặp Th tại khu vực ngã tư 550 thuộc khu phố Th, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Th mượn xe mô tô biển số 65D1-149.85 của anh Hồ Văn Nh để đến điểm hẹn mua ma túy nhưng nói với anh Nh là mượn xe để đi công việc, sau đó Th điều khiển xe mô tô nói trên đến ngã tư 550 thuộc khu phố Thống Nh, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương để mua ma túy. Tại đây, T đưa cho Th 04 gói ma túy (gồm 01 gói lớn và 03 gói nhỏ) được bảo quản trong gói nylon hàn kín và quấn bên ngoài bằng một tờ giấy màu trắng – xanh trên tờ giấy có ghi dòng chữ bếp ga Hoàn Anh, Th nhận ma túy và trả cho Thông số tiền 1.200.000 đồng. Th cất ma túy vào lưng quần của mình và điều khiển xe môtô đi về phòng trọ của Lương Anh Tuấn tại số 39 đường 5, khu phố Th, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương. T nhờ Th chở đi đến ngã tư đường Mồi để T lấy xe môtô của mình, khi đi đến đoạn đường trước số nhà 18/24,đường số 13 thuộc Khu phố Th, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì bị tổ tuần tra Công an phường D kiểm tra và phát hiện thu giữ trong người của Th có 01 tờ giấy gói 04 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng Th khai là ma túy đá nên Công an phường D tiến hành lập biên bản người có hành vi phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 tờ giấy gói 03 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng có trọng lượng 0,6835 gam; 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng có trọng lượng 01,1171 gam có thành phần Methamphetamine; 01 điện thoại di động Nokia 1100màu đen có sim số 0901.617.327; 01 xe môtô biển số 65D1-149.85.

Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho bị cáo hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với anh Lương Anh T không biết Th cất giữ ma túy trong người của Th nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius biển số 65D1-149.85bị cáo Th sử dụng làm phương tiện phạm tội là tài sản hợp pháp của anh Hồ Văn Nh, anh Nh không biết bị cáo sử dụng xe mô tô nói trên để làm phương tiện phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.

Căn cứ kết luận giám định số 326 ngày 04/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng: 0,6835 gam (M1); 1,1171 gam (M2). Tổng 1,8006 gam là loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giámgiám định số 326/MT-PC54 ngày 04/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Tại Cáo trạng số 290/QĐ - VKS ngày 11 tháng 9 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Đình Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểmh khoản 1 Điều 52Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Đình Th mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Ma túy đá có trọng lượng sau giám định là: 0,5577 gam (M1); 0,9326 gam (M2) là loại Methamphetamine và Sim số 0901.617.327 không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động Nokia 1100 màu đen cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứngkhông khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về nội dung: Ngày 29/5/2018 tạiđoạn đường trước số nhà 18/24, đường số 13 thuộc Khu phố Th, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương, Lê Đình Th đã có hành vi tàng trữ 04 gói nylon hàn kín chứa Methamphetaminetrọnglượng1,8006 gam (Căn cứ kết luận giám định số326 ngày 04/6/2018 của Phòng kỹ  thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương).

Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: .......

c) Heroin, Cocaine, Methemphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; .......

Hành vi của bị cáotàng trữ04 gói nylon hàn kín chứa Methamphetaminecó trọng lượng1,8006 gam mục đích để sử dụngđãđủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tạiđiểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Cáo trạng số 290/CT - VKS ngày 11 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

 [3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm dobị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

 [4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án, bản án hình sự số 102/2012/HSPT ngày 17/5/2012 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong ngày 10/10/2017 chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội là “Tái phạm” là tìnhtiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

 [5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự củabị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt:Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa,bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

 [6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dươngxét xử về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; bị cáo là người lao động, nghiện ma túy.

 [7] Xử lý vật chứng:

- Xét 01 bì thư được niêm phong chứa Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,5577 gam (M1), 0,9326 gam (M2)là vật cấm lưu thông và Sim số 0901.617.327 không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động Nokia màu đen 1100 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius biển số 65D1-149.85bị cáo Th sử dụng làm phương tiện phạm tội là tài sản hợp pháp của anh Hồ Văn Nh, anh Nh không biết bị cáo sử dụng xe mô tô nói trên làm phương tiện phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.

 [8] Đối với anh Lương Anh T không biết Th cất giữ ma túy trong người của Th nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An không xử lý.

 [9] Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho bị cáo hiện chưa rõ nhân thân Cơ quan Cảnh sát sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh.

 [10] Mức hình phạt, xử lý vật chứng như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

 [11] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đình Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáoLê Đình Th 02(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong số 326/PC54 có thành phần Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,5577 gam (M1), 0,9326 gam (M2)và Sim số 0901.617.327.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 1100màu đen.

 (Biên bản giao nhận vật chứng ngày13/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Đình Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 294/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:294/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về